- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Quyết định đình chỉ"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 31/2015/TLST-HNGĐ ngày 02
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:13/2019/QĐST - DS | Phú Bình, ngày 29 tháng 11 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
Căn cứ vào các điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật
tố tụng dân sự;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm;
Xét thấy:
- Ông Dương Doãn Đ, sinh năm 1932 kết hôn với bà Nguyễn Thị Gi, sinh
năm 1933 sinh được 04 người con gồm: Ông Dương Xuân S, sinh năm 1958, địa chỉ: Tổ 2, thị trấn H, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; Bà Dương Thị S1, sinh năm 1967, địa chỉ: xóm P, xã D, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên; Ông Dương Doãn S2, sinh năm 1969, địa chỉ: Tổ 2, thị trấn H, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; Ông Dương Doãn K, sinh năm 1972, địa chỉ: Tổ 2, thị trấn H, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Ngày 29/9/2014 bà Nguyễn Thị Gi chết không để lại di chúc.
- Ngày 05/5/2015 ông Dương Doãn Đ khởi kiện tranh chấp Hợp đồng tặng
cho tài sản với vợ chồng con trai ruột là Dương Doãn K và Dương Thị Quyến. Trong đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết tại Tòa án ông Dương Doãn Đ xác định ông và vợ ông là bà Nguyễn Thị Gi quản lý 06 thửa đất với tổng diện tích 1751m2, nguồn gốc diện tích đất này là của bố mẹ ông để lại. Tháng 7/2013 ông phát hiện việc anh K đã giả mạo chữ ký của vợ chồng ông để tặng cho vợ chồng anh K trong Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với 04 thửa đất gồm thửa 585, tờ bản đồ 06, có diện tích 300m2 đất ở lâu dài, thửa 585a, tờ bản đồ 06, diện tích 520m2, ghi trong hợp đồng tặng cho là 40m2 nhưng lại trừ đi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 68m2, thửa 601, tờ bản đồ số 6, có diện tích 414m2 và toàn bộ thửa số 807, tờ bản đồ số 7 có diện tích 137m2 đất màu. Ông Đ khẳng định vợ chồng ông không được biết, không được ký hợp đồng tặng cho tài sản, vợ ông là bà Gi không biết viết. Nay ông xác định 4 thửa đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng ông, vợ chồng ông không tặng cho vợ chồng anh K nên ông khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh K và chị Q do UBND huyện Phú Bình cấp, buộc anh K, chị Q phải trả lại toàn bộ các thửa đất đã chiếm đoạt cho ông, do bà Gi đã chết nên ông yêu cầu chia thừa K theo pháp luật đối với phần tài sản của vợ ông trong khối tài sản chung của vợ chồng.
Bị đơn anh Dương Doãn K, chị Dương Thị Q và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là bà Dương Thị S1 xác định việc tặng cho hợp pháp.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Dương Doãn S, Dương Doãn
S2 xác định việc tặng cho không hợp pháp, yêu cầu anh K trả lại toàn bộ diện tích đất cho ông Đ để dùng làm nơi thờ cúng.
Ông S, bà S1, ông S2 không yêu cầu chia thừa kế phần tài sản của bà Gi
trong khối tài sản chung.
- Ngày 02/10/2015 Tòa án nhân dân huyện Phú Bình đã tiến hành thụ lý vụ
án “Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản”
- Ngày 04/4/2016 ông Dương Doãn Đ là nguyên đơn chết không để lại di
chúc.
- Đây là tranh chấp kiện đòi quyền tài sản và yêu cầu chia thừa kế theo
pháp luật, khi nguyên đơn chết thì tài sản trở thành di sản thừa kế kể từ thời điểm người đó chết và di sản được chia theo quy định pháp luật đối với hàng thừa kế thứ nhất, 4 người con của ông Đ đều có quyền ngang nhau trong việc hưởng di sản thừa kế của cha mẹ.
- Trong vụ án này nguyên đơn khởi kiện tranh chấp Hợp đồng tặng cho tài
sản đối với bị đơn là con trai ruột, là người được hưởng thừa kế, thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Khoản 1 Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định “1.Trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng”, bị đơn cũng là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, dẫn đến một người tham gia với hai tư cách tố tụng nhưng lại có quyền và lợi ích đối lập nhau. Nguyên đơn có yêu cầu chia thừa kế nhưng đã chết, các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất có mâu thuẫn nhau về quyền và nghĩa vụ tố tụng. Như vậy việc thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng trong trường hợp này không được thừa kế đầy đủ.
- Để giải quyết vụ án một cách triệt để, đảm bảo quyền và lợi ích của các
đương sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Dương Xuân S, ông Dương Doãn S2 là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất cho rằng khối tài sản mà ông Dương Doãn Đ đang khởi kiện tại Tòa án là di sản thừa kế của ông Dương Doãn Đ và bà Nguyễn Thị Gi là bố mẹ đẻ để lại thì có quyền khởi kiện vụ án khác về yêu cầu chia thừa kế theo quy định của pháp luật và Hợp đồng tặng cho tài sản giữa vợ chồng ông Dương Doãn Đ, bà Nguyễn Thị Gi với anh Dương Doãn K, chị Dương Thị Q được xem xét trong vụ án tranh chấp thừa kế.
Như vậy việc nguyên đơn chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được
thừa kế đầy đủ, căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 31/2015/TLST-HNGĐ ngày 02
tháng 10 năm 2015 về việc Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản giữa:
Nguyên đơn: Ông Dương Doãn Đ, sinh năm 1933
Địa chỉ: Tổ 2, thị trấn H, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Bị đơn: + Anh Dương Doãn K, sinh năm 1972
+ Chị Dương Thị Q, sinh năm 1973
Địa chỉ: Tổ 2, thị trấn H, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Dương Xuân S, sinh năm 1958
Địa chỉ: Tổ 2, thị trấn H, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
+ Bà Dương Thị S1, sinh năm 1967
Địa chỉ: xóm P, xã D, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
+ Ông Dương Doãn S2, sinh năm 1969
Địa chỉ: Tổ 2, thị trấn H, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:
- Đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án.
- Về án phí: Sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ tạm ứng án phí do ông
Dương Doãn Đ đã nộp theo biên lai thu số 0011570 ngày 28/9/2015 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng
nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục THADS huyện Phú Bình - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Châm Thị Vân Khánh |