vanban.org

Quyết định 13/2019/QĐ-TA

TAND TX. Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 25/07/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: PHẠM NGỌC M, sinh năm 1982, tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma tuý tỉnh Đắk Lắk.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày Phạm Ngọc M bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Phạm Ngọc Minh xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: PHẠM NGỌC M, sinh năm 1982, tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma tuý tỉnh Đắk Lắk.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 11 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 13/2019/QĐ-TABuôn Hồ, ngày 25 tháng 7 năm 2019.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Cao Anh Tuấn

2. Thư ký phiên họp: Ông Ngụy Thế Xuân

Ngày 25 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 12/2019/QĐ-TA ngày 18/7/2019 đối với:

Họ và tên PHẠM NGỌC M (Tên gọi khác: Đ); Giới tính: nam.

Sinh ngày 02 tháng 6 năm 1982;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 8/12;

Nguyên quán: huyện B, tỉnh Quảng Bình;

Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố A, phường B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk;

Chỗ ở: Tổ dân phố A, phường B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk;

Nghề nghiệp: Làm nông;

Tiền án: 01 tiền án, ngày 12/02/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 50/2018/HSST.

Tiền sự: Không.

Nhân thân xấu: Ngày 11/7/2001, bị Tòa án nhân dân huyện K xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 37/2001/HSST; ngày 19/12/2005 UBND thành phố B ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa trị tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Đắk Lắk. Ngày 11/11/2009 bị Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 30/7/2012 chấp hành xong hình phạt.

Con ông Phạm Ngọc T và bà Nguyễn Thị Q;

Có vợ Đỗ Thị Thùy D, sinh năm 1984 (đã ly hôn)

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã B, tỉnh Đăk Lăk: Ông La Thành T; Chức vụ: chuyên viên (Văn bản uỷ quyền số 15/GUQ-LĐTBXH ngày 25/7/2019). (Có mặt)

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ: Bà Ngô Thị Thu H - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Đối tượng Phạm Ngọc M là người sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 18/02/2019 Phạm Ngọc M bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 02b/QĐ-UBND ngày 18/02/2019 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường B, thị xã B trong thời gian 03 tháng. Chưa chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, ngày 02/5/2019, Phạm Ngọc M tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý; ngày 04/5/2019 Công an phường B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk đã lập biên bản và đưa Phạm Ngọc M đi xét nghiệm chất ma tuý tại Bệnh viện đa khoa thị xã B; kết quả xét nghiệm cho thấy Phạm Ngọc M, dương tính với Morphine, là người nghiện ma túy.

Tại phiên họp ngày hôm nay người được đề nghị Phạm Ngọc M, mặc dù đã được Tòa án nhân dân thị xã B tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh số 09 Tòa án nhân dân thị xã B vẫn tiến hành họp vắng mặt người được đề nghị Phạm Ngọc M.

- Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã B nhận thấy Phạm Ngọc M là đối tượng nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã B đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với M trong thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B: Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc M quy định tại Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính được Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã B thực hiện đầy đủ theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và Tòa án đã thực hiện đúng theo Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc M trong thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa đối tượng Phạm Ngọc M vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm: Bản tóm tắt lý lịch, tài liệu và bản tường trình về hành vi vi phạm pháp luật của Phạm Ngọc M; Biên bản xét nghiệm chất ma túy và Phiếu trả lời kết quả về tình trạng nghiện ma túy; Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy và Quyết định chấm dứt về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường B, thị xã B đối với Phạm Ngọc M; Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường B về việc giao Phạm Ngọc M cho gia đình quản lý; Thông báo tính pháp lý của hồ sơ; Văn bản của Phòng tư pháp thị xã B về kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ; Văn bản đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã B và các tài liệu khác có liên quan. Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc M đã đầy đủ, đúng quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3, Điều 4, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối tượng Phạm Ngọc M là người sử dụng trái phép chất ma tuý, theo kết quả xét nghiệm tình trạng ma tuý của Phạm Ngọc M tại Bệnh viện đa khoa thị xã B cho thấy Phạm Ngọc M dương tính với Morphine, là người nghiện ma túy.

Bản thân Phạm Ngọc M có 01 tiền án, ngày 12/02/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 50/2018/HSST; có nhân thân xấu: Ngày 11/7/2001, bị Tòa án nhân dân huyện K xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 37/2001/HSST; ngày 19/12/2005 UBND thành phố B ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa trị tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Đắk Lắk. Ngày 11/11/2009 bị Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 30/7/2012 chấp hành xong hình phạt. Phạm Ngọc Minh không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị Uỷ ban nhân dân phường B, thị xã B áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức giáo dục tại xã, phường, thị trấn kể từ ngày 18/02/2019, chưa chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn, ngày 02/5/2019, lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Bản thân Phạm Ngọc M đã trên 18 tuổi, nhận thức được hành vi sử dụng ma túy của mình là vi phạm pháp luật.

Vì vậy căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhân thân của Phạm Ngọc M và mức thời gian cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã B, xét thấy cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa Phạm Ngọc M vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian hợp lý để được chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề trở thành người công dân có ích cho xã hội dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp với quy định tại Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d, khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3, Điều 4, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: PHẠM NGỌC M, sinh năm 1982, tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma tuý tỉnh Đắk Lắk.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày Phạm Ngọc M bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thị xã B có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B có quyền kháng nghị Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc Quyết định được Tòa án niêm yết.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an thị xã B, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã B có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định này.

Cỡ chữ