vanban.org

Quyết định 127/2022/QĐST-HNGĐ — Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 24/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N: Xác định ông Trần Văn Nh và bà Nguyễn Thị L là cha đẻ, mẹ đẻ của bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1976. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Nguyễn Thị N"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 127/2022/QĐST-HNGĐNinh Kiều, ngày 24 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v xác định cha mẹ cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hồng Quân

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thái Minh Ngọc – Thư ký TAND quận Ninh Kiều

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên họp: Bà Lê Hoàng Dung - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 406/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022 về việc: “Yêu cầu xác định cha mẹ cho con”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 406/2022/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1976

Địa chỉ: 18/59A đường X, phường T, quận N, thành phố C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn Tuấn E, sinh năm 1977

Địa chỉ: 75 Đường số 4, KDC TK3, khóm T, phường M, thành phố L.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà là con của ông Trần Văn E Những và bà Nguyễn Thị Lang. Bà có một người em tên Trần Văn Tuấn E, sinh năm 1977, hiện đang sinh sống tại 75 Đường số 4, KDC TK3, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An G. Gia đình bà nguyên quán Campuchia, không có trình độ học vấn. Trong những năm sau chiến tranh còn nhiều khó khăn, loạn lạc cha mẹ bà không làm đầy đủ giấy tờ cho bà và em trai. Cha mẹ bà đã mất nhiều năm (không có giấy chứng tử), chị em bà có cuộc sống riêng, việc làm giấy khai sinh, giấy tờ tùy thân khác đều do chị em bà tự thực hiện riêng lẻ. Cũng vì không hiểu biết và không am hiểu pháp luật nên giấy tờ tùy thân của bà có nhiều sai sót và nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật của bà.

Nay bà yêu cầu Tòa án xác định quan hệ cha, mẹ, con giữa bà với ông Trần Văn Nh và bà Nguyễn Thị L

Tại Bản tự khai ngày 10 tháng 8 năm 2022, ông Trần Văn Tuấn E trình bày:

Ông là con của ông Trần Văn Nh và bà Nguyễn Thị L . Ông có một người chị gái tên Nguyễn Thị N. Gia đình ông nguyên quán Campuchia, không có trình độ học vấn. Trong những năm sau chiến tranh còn nhiều khó khăn, loạn lạc cha mẹ ông không làm đầy đủ giấy tờ cho ông và chị gái. Cha mẹ ông đã mất nhiều năm (không có giấy chứng tử), chị em ông có cuộc sống hôn nhân riêng, việc làm giấy khai sinh, giấy tờ tùy thân khác đều do chị em ông tự thực hiện riêng lẻ. Cũng vì không hiểu biết và không am hiểu pháp luật nên giấy tờ tùy thân của chị gái ông có nhiều sai sót và nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật.

Nay đề nghị Tòa án xE xét chấp nhận yêu cầu của chị ông là bà Nguyễn Thị N về việc xác định quan hệ cha, mẹ, con giữa bà Nguyễn Thị N với ông Trần Văn Những và bà Nguyễn Thị Lan (Lạng).

Phiếu kết quả phân tích ADN số KQ 2102523 của Hội đồng khoa học Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền – Gentis kết luận:

Bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn Tuấn E có quan hệ huyết thống chị gái – E trai cùng cha cùng mẹ.

Tại phiên họp:

Bà Nguyễn Thị N giữ nguyên nội dung yêu cầu.

Ông Trần Văn Tuấn E giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở bản tự khai ngày 10 tháng 8 năm 2022, đề nghị Tòa án xE xét chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền, thu thập chứng cứ đúng thủ tục tố tụng.

- Về nội dung: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, xét thấy yêu cầu của bà Nguyễn Thị N là có cơ sở nên đề nghị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều áp dụng khoản 10 Điều 29, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 366, Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 28, 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 (Điều 88, 90,92,101 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014); Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc xác định ông Trần Văn Những và Nguyễn Thị Lan (Lạng) là cha đẻ, mẹ đẻ của bà Nguyễn Thị N.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị N phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị N có địa chỉ cư trú tại 18/59A X, phường T, quận N, thành phố C yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xác định quan hệ cha, mẹ, con giữa bà với ông Trần Văn Nh và bà Nguyễn Thị L. Đây là yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý việc dân sự để giải quyết, xác định quan hệ pháp luật là “Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con” theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình là đúng quy định tại khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 361 của Bộ luật Tố tụng dân sự

Về nội dung yêu cầu: Kết quả phân tích ADN số KQ 2102523 của Hội đồng khoa học Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền – Gentis kết luận (Bút lục 37):

Bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn Tuấn E có quan hệ huyết thống chị gái – E trai cùng cha cùng mẹ.

Giấy khai sinh của ông Trần Văn Tuấn E thể hiện cha ông tên Trần Văn Những, mẹ ông tên Nguyễn Thị L - Bản sao giấy khai sinh số 511 ngày 15/6/2022 – Bút lục 03.

Như vậy, từ những chứng cứ nêu trên xét thấy nội dung Kết quả phân tích ADN số KQ 2102523 của Hội đồng khoa học Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền – Gentis hoàn toàn phù hợp với lời khai của các đương sự. Do đó, bà Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án xác định ông Trần Văn Nh và bà Nguyễn Thị L là cha đẻ, mẹ đẻ của bà là có căn cứ.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp nhận yêu cầu bà N là phù hợp.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự, người yêu cầu phải chịu theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 372, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 28, 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 (Điều 88, 90,92,101 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

- Điều 68 Bộ luật dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N:

Xác định ông Trần Văn Nh và bà Nguyễn Thị L là cha đẻ, mẹ đẻ của bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1976.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng), khấu trừ tiền tạm ứng lệ phí bà N đã nộp theo Biên lai thu số 0000679 ngày 22/6/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành lệ phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ