vanban.org

Quyết định 125/2019/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Trương Minh V.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Trương Minh V thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Trương Minh V"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Trương Minh V.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 125/2019/QĐST-HNGĐGiồng Trôm, ngày 03 tháng 7 năm 2019.

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 15/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2019, giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Ông Trương Minh V, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 25 tháng 6 năm 2019.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 25 tháng 6 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Trương Minh V.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Trương Minh V thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Trương Minh V đều khai có hai con chung tên là Trương Thanh T, sinh ngày 28/12/2004 và Trương Bảo N, sinh ngày 02/12/2007; bà H và ông V thỏa thuận sau khi ly hôn, ông V là người trực tiếp nuôi con chung tên Trương Thành T và Trương Bảo N. Ghi nhận việc ông Trương Minh V không yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc H cấp dưỡng nuôi con. Bà Nguyễn Thị Ngọc H là người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền và lợi ích mọi mặt của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con: Người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Trương Minh V tự thỏa thuận nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Trương Minh V không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Trương Minh V phải chịu 50% án phí theo quy định của pháp luật, mỗi người phải nộp là 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng; ông V tự nguyện nộp thay án phí cho bà H. Tổng cộng án phí ông Trương Minh V phải nộp là 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho bà Nguyễn Thị Ngọc H là 18.840.000 (mười tám triệu tám trăm bốn mươi nghìn) đồng theo các biên lai thu số 0000145 và số 0000146 ngày 17 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc phẩm.

Cỡ chữ