- Tranh chấp gì? "ADBPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đồi với Trần Quốc T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 124/QĐ-TA | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 12 năm 2025. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim T
2. Thư ký phiên họp: Bà Danh Thị Ngọc Lệ
Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số 6, thành phố Hồ
Chí Minh tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 91/QĐ-TA ngày 27 tháng 11 năm 2025, đối với:
Họ và tên: Trần Quốc T1. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 02 tháng 10 năm 1995.
Căn cước công dân số: 060095006564. Ngày cấp: 28/6/2021. Nơi cấp: Cục C
về TTXH – Bộ C1.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Công giáo.
Trình độ văn hóa: 9/12.
Nguyên quán: Tỉnh Lâm Đồng.
Nơi cư trú: Thôn T, xã S, tỉnh Lâm Đồng.
Nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: Không.
Tiền án, tiền sự: Không.
Con ông Trần Chí L, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968.
Trần Quốc T1 có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phạm Hữu L1 – Cán bộ Công an xã B, thành
phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 706/GUQ – CA ngày 01/12/2025)
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh: Ông
Cù Hoàng Vũ – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Công an xã B, thành phố Hồ Chí Minh ban hành văn bản số 663/ĐN-CAX, ngày
10/10/2025 về việc đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy Số F, thành phố Hồ Chí Minh đối với ông Trần Quốc T1 về hành vi vi phạm như sau:
Tại bản tường trình và biên bản làm việc ngày 19/9/2025 ông Trần Quốc T1
trình bày: ông T1 bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2025, gần đây nhất là vào ngày 19/9/2025 có sử dụng ma túy một mình tại nhà riêng thuộc xã B, thành phố Hồ Chí Minh. Do ông T1 có hành vi vi phạm và tự nguyện khai nhận nên ngày 19/9/2025, Công an xã B, thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với ông T1, kết quả xét nghiệm cho thấy ông T1 dương tính với ma túy (Ketamin). Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy (kèm phiếu tổng hợp theo dõi để xác định tình trạng nghiện ma túy) ngày 20/9/2025 của Trạm Y tế xã X, Trung tâm Y tế K2 xác định ông T1 có nghiện ma túy, tên loại ma tuý sử dụng Ketamin. Sau khi có kết quả, xác định ông T1 có nghiện ma túy nhưng bản thân ông T1 không đăng ký và từ chối cai nghiện tự nguyện nên đã vi phạm quy định tại Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Vì vậy, ngày 29/9/2025 ông Trần Quốc T1 bị Công an xã B, thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản số 108/BB-VPHC về việc vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
Từ những cơ sở và căn cứ nêu trên, ngày 20/9/2025 Công an xã B, thành phố
Hồ Chí Minh đã có Thông báo số 589/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trước đó, ngày 20/9/2025, Trưởng Công an xã B, thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 98/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Quốc T1, do ông T1 không có nơi cư trú ổn định nên Trưởng Công an xã B, thành phố Hồ Chí Minh căn cứ điểm a khoản 2 Điều 131 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025); khoản 2 Điều 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 21/12/2021 giao ông T1 cho Cơ sở Cai nghiện ma tuý Số F, thành phố Hồ Chí Minh quản lý từ ngày 20/9/2025 đến khi có quyết định của Tòa án.
Sau khi lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc theo đúng thủ tục quy định tại Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 7 và Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT - BCA – VKSNDTC - TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C1 –Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao; Điều 103 và Điều 104 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025). Trưởng Công an xã B, thành phố Hồ Chí Minh chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 14 xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp:
- Đại diện Cơ quan đề nghị trình bày nội dung đề nghị xem xét, quyết định áp
dụng biện pháp xử lý hành chính: Đại diện theo ủy quyền của Trưởng Công an xã B, thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy, ông Trần Quốc T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy thì ông T1 nghiện ma túy, tên loại ma tuý sử dụng K và đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm. Ông T1 được xác định là người không có nơi cư trú ổn định nên thuộc đối tượng quy định tại Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025); bản thân ông T1 không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên đã vi phạm khoản 1 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy năm 2021. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 14 xem xét ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T1 một thời gian, giúp ông T1 trở thành người có ích cho xã hội. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 (Mười hai) tháng đến 14 (Mười bốn) tháng.
- Ý kiến của Viện kiểm sát: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về tính hợp pháp của
các hành vi, quyết định của Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Thẩm phán, thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý
hành chính theo quy định tại các Điều 8, 9, 10, 12, 13, 15, 17 và Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban T2 (sau đây viết tắt là Pháp lệnh); người tham gia phiên họp thực hiện đúng quy định tại Điều 19, Điều 20 của Pháp lệnh.
Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T1 là
cần thiết, đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như đề nghị của Trưởng Công an xã B, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bị đề nghị trình bày ý kiến về nội dung đề nghị của Cơ quan đề nghị:
Ông Trần Quốc T1 thừa nhận sử dụng ma túy nhiều lần, thời gian bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2025, gần đây nhất là vào ngày 19/9/2025 có sử dụng ma túy một mình tại nhà riêng thuộc xã B, thành phố Hồ Chí Minh. Loại ma túy sử dụng là K1 và đề nghị Hội đồng phiên họp xem xét giảm thời gian chấp hành.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và nghe lời trình bày
của Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị tại phiên họp và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp.
XÉT THẤY:
1. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:
- Thời hiệu giải quyết: Ngày 19/9/2025, ông Trần Quốc T1 có hành vi vi phạm.
Ngày 19/9/2025, ông T1 bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội. Ngày 02/12/2025, Tòa án mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T1 là còn trong thời hiệu, theo quy định tại Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025).
- Thẩm quyền giải quyết: Căn cứ Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày
27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 3 của Pháp Lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025).
- Trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Sau khi xác định ông Trần Quốc T1 là người nghiện
ma túy không có nơi cư trú ổn định. Cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành thủ tục lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại các Điều 40, 41, 42, 43, 44 và 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C1–Viện kiểm sát nhân dân Tối cao– Tòa án nhân dân Tối cao và Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025).
2. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:
Ông Trần Quốc T1 thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của
mình. Lời khai của ông T1 phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của Cơ quan đề nghị. Xác định, vào ngày 19/9/2025 ông T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã tự nguyện khai nhận nên ngày 19/9/2025, Công an xã B, thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản xét nghiệm chất ma túy, kết quả cho thấy ông T1 dương tính với ma túy. Căn cứ Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy (kèm phiếu tổng hợp theo dõi để xác định tình trạng nghiện ma túy) của Trạm Y tế xã X, Trung tâm Y tế khu vực Hồ Tràm ngày 20/9/2025 thì ông Trần Quốc T1, có nghiện ma túy Ketamin. Như vậy, hành vi của ông T1 đã vi phạm Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025); Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.
3. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ: Ông Trần Quốc T1 đã tự nguyện khai báo, thành thật hối
lỗi nên căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025) xem xét giảm nhẹ một phần mức thời gian áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
4. Nhân thân: Không.
5. Mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: Ông Trần Quốc T1 biết rõ
ma túy K là chất gây nghiện, có sức tàn phá đối với sức khỏe, gây ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Đồng thời, ông T1 cũng nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình là xâm phạm trực tiếp đến quản lý Nhà nước về phòng, chống ma túy.
6. Ý kiến của người tham gia phiên họp:
- Cơ quan đề nghị: Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Quốc T1.
- Người bị đề nghị: Sau khi nghe người đại diện theo ủy quyền của Trưởng
Công an xã B trình bày nội dung đề nghị thì ông T1 đồng ý với ý kiến của Cơ quan đề nghị và xin Hội đồng phiên họp xem xét giảm thời gian chấp hành.
7. Lý do, căn cứ áp dụng:
- Lý do áp dụng: Trưởng Công an xã B, thành phố Hồ Chí Minh đề nghị áp
dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Quốc T1 là cần thiết để hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội, giúp ông T1 dừng sử dụng chất ma túy, phục hồi thể chất, tinh thần, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi để chấm dứt việc sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, làm giảm tác hại liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
- Căn cứ áp dụng: Căn cứ vào các Điều 3, 6, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 110 và
131 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025); Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; các Điều 2, 3, 7, 8, 20, 22, 23, 30, 31, 32 và 33 của Pháp Lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; các Điều 40, 41, 42, 43, 44 và Điều 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 7, Điều 8 và Điều 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C1 – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
với ông Trần Quốc T1.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 12 (Mười hai) tháng kể
từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tính từ ngày 20/9/2025.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị và thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị:
Thời hạn khiếu nại của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là 05 ngày
làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định;
Thời hạn kiến nghị của Cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng
cấp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã B, thành phố Hồ Chí Minh tổ chức
thi hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - Trưởng Công an xã Bình Châu; - VKSND Khu vực 14; - UBND xã Bình Châu, TP. Hồ Chí Minh; - TAND TP. Hồ Chí Minh; - Cơ sở Cai nghiện ma túy Số 6, TP. Hồ Chí Minh; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Kim Thảo |