vanban.org

Quyết định 124/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị Hồng D.

Bà Hồ Kim V, sinh năm 1957; nơi cư trú cuối cùng: 75 đường K, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích. Thời điểm bà Hồ Kim V mất tích được xác định là ngày 02/01/1977. Về lệ phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tich"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị Hồng D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUÂÂN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 124/2020/QĐST-DS
Ngày: 21/9/2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố mô Ât người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUÂÂN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quâ ân 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quâ ân 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quâ ân 11, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 14/2020/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố mô ât người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 16/2020/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Hồ Thị Hồng D, sinh năm 1964; địa chỉ: đường K, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu: Ông Trần Thiên P, sinh năm 1996; địa chỉ: đường C, phường B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh – Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/02/2020 lập tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Kim Chi).

Có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hồ Thị Hồng N, sinh năm 1962;

2. Bà Hồ Thị Hồng Đ, sinh năm 1967;

3. Ông Hồ Tinh T, sinh năm 1959;

4. Ông Hồ Tấn L, sinh năm 1961;

Cùng địa chỉ: 75 đường K, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bà N, bà Đ, ông T, ông L: Ông Trần Thiên P, sinh năm: 1996, địa chỉ: đường C, phường B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh - Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/02/2020 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Kim Chi).

Có đơn xin vắng mặt.

NỘI D VIỆC DÂN SỰ:

Bà Hồ Thị Hồng D có người chị ruột tên là Hồ Kim V đã bỏ nhà đi từ năm 1978 đến nay không có tin tức. Bà D có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với chị ruột là bà Hồ Kim V, sinh năm 1957; nơi cư trú cuối cùng: 75 đường K, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quâ ân 11 nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về yêu cầu của đương sự:

Theo lời trình bày của ông Trần Thiên P là người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Hồ Thị Hồng D: Cha mẹ bà D là ông Hồ Văn Ph (sinh năm 1924, mất năm 1995) và bà Nguyễn Thị H (sinh năm 1931, mất năm 2014) có tất cả 07 người con là: Hồ Tinh T, Hồ Tấn L, Hồ Văn D, Hồ Thị Hồng N, Hồ Thị Hồng D, Hồ Thị Hồng Đ và bà Hồ Kim V. Bà V đã bỏ nhà đi từ năm 1978 không liên lạc gì với gia đình, gia đình cũng đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm cho đến nay nhưng không có tin tức gì của bà V. Nay để bổ sung giấy tờ làm hồ sơ nhà đất, bà D yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Hồ Kim V, sinh năm 1957, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tại số: 75 đường K, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 08/5/2020, bà Hồ Thị Hồng D đã ký hợp đồng với báo Công Lý thông báo 3 kỳ liên tiếp vào các ngày 12,15 và 19/5/2020 và Đài truyền hình Việt Nam thông tin trên sóng phát thanh 3 kỳ liên tiếp vào các ngày 11,12 và 13/5/2020 với nội D nhắn tin tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Hồ Kim V.

Theo lời trình bày của ông Trần Thiên P là người đại diện theo ủy quyền

của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà N, bà Đ, ông T, ông L: Thống nhất với trình bày của bà D, xác định bà V đã bỏ nhà đi từ năm 1978 cho đến nay không có tin tức gì, không biết bà V đi đâu, cư trú ở đâu. Các anh, chị, em của bà D cùng thống nhất với yêu cầu của bà D, yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Hồ Kim V.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự:

“Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.”

Như vậy, bà Hồ Thị Hồng D là em ruột bà Hồ Kim V có đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với bà Hồ Kim V, sinh năm: 1957; nơi cư trú cuối cùng: 75 đường K, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.

Xác định thời điểm mất tích của bà Hồ Kim V:

Theo Kết quả cung cấp chứng cứ của Công an Phường M, Quận 11 xác định: “Đương sự Hồ Kim V, sinh năm 1957 có đăng ký thường trú tại 75 K, Phường M, Quận 11. Năm 1974 bỏ địa phương đi đâu không rõ thông tin”, do không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng của bà V nên thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng là ngày 01/01/1975.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự, thời hạn biệt tích 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó. Do đó, thời điểm bà Hồ Kim V mất tích được xác định là ngày 02/01/1977.

Đối vối ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 về việc giải quyết yêu cầu của đương sự:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ việc và tại phiện họp, Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của pháp luật; người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về nội D: Việc bà Hồ Thị Hồng D có đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với bà Hồ Kim V, sinh năm 1957, nơi cư trú cuối cùng: 75 đường K, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị Tòa án chấp nhận. Ngày mất tích của bà Hồ Kim V được xác định là ngày 02/01/1977.

Về lệ phí: Bà Hồ Thị Hồng D phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 369, 370, 371, 372, Điều 387, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị Hồng D.

Tuyên bố:

Bà Hồ Kim V, sinh năm 1957; nơi cư trú cuối cùng: 75 đường K, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích. Thời điểm bà Hồ Kim V mất tích được xác định là ngày 02/01/1977.

2. Về lệ phí:

Bà Hồ Thị Hồng D chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng ), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà D đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2019/0015786 ngày 16/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; bà D đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp họ không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn đó được tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết./.

Cỡ chữ