vanban.org

Quyết định 121/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng các Điều 51; 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. * Tuyên Xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án N và H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng các Điều 51; 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒN ĐẤT
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2019/HNGĐ-ST.
Ngày: 07/11/2019.
Về việc: “Xin ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn An

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Hồng Gái

2. Ông Võ Thanh Bình

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký toà án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 07 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 332/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2019 về việc: “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2019/QĐST - HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 72/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22/10/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1996 (có mặt).

Địa chỉ: ấp Mỹ Thái, xã MT, huyện HĐ, tỉnh KG.

Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Kiên Bình, xã MT, huyện HĐ, tỉnh KG.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Lê Văn H tự tìm hiểu yêu thương nhau và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào năm 2018. Sau đó anh chị có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 23/4/2018. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H không lo lắng cho gia đình, thường xuyên đi chơi cùng bạn bè, chị N đã Nều lần khuyên ngăn nhưng anh H không thay đổi, từ đó vợ chồng thường xuyên cự cải, lớn tiếng với nhau. Do những bất đồng không không giải quyết được nên chị N và anh H đã ly thân với nhau hơn 8 tháng nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt mục đích nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn H.

- Về con chung: Quá trình chung sống giữa chị N và anh H có 01 người con chung là tên Lê Tường Vi, sinh ngày 25/02/2017. Hiện tại anh H đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ly hôn chị N đồng ý giao cháu Vi cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, chị N không cấp dưỡng nhưng nếu có điều kiện thì chị sẽ tự cho con sau.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Lê Văn H trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh H vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.

* Tại bản tự khai bà Phạm Thị T trình bày như sau: Bà Phạm Thị T là mẹ ruột của anh Lê Văn H. Bà T cho biết hiện tại anh H đang đi làm, ít khi có mặt tại nhà, anh H đi hai đến ba ngày mới về một lần. Từ khi Tòa án đến tống đạt các giấy tờ văn bản cho anh H với nội dung chị N yêu cầu ly hôn với anh H thì bà T đã nhận đầy đủ thay cho anh H, bà T đã giao lại cho anh H đầy đủ, tuy Nên còn việc anh H không đến Tòa án để làm việc thì bà không biết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thẩm quyền: Đối với tranh chấp về hôn nhân gia đình giữa chị Lê Thị N và anh Lê Văn H. Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn anh Lê Văn H nhưng bị đơn vẫn vắng mặt đến lần thứ hai. Do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Chị Lê Thị N và anh Lê Văn H là vợ chồng hợp pháp do đã được UBND xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 23/4/2018. Quá trình chung sống giữa chị N và anh H phát sinh Nều mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và không H hợp với nhau nên thường xuyên cãi vã, bất H. Nay chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt được mục đích, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn với anh H.

Hội đồng xét xử xét thấy: Việc chị N yêu cầu được ly hôn với anh H là có cơ sở để được chấp nhận. Bởi lẽ, theo lời trình bày của chị N, chị và anh H chung sống với nhau nhưng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống dẫn đến việc anh chị đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2019 cho đến nay, hiện nay anh chị không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau nữa. Chứng tỏ mối quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị N là có cơ sở để được hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống giữa chị N và anh H có 01 người con chung tên là Lê Tường Vi, sinh ngày 25/02/2017. Theo lời trình bày của chị N thì khi chị và anh H ly thân với nhau, chị bỏ về nhà mẹ ruột sống, còn cháu Vi thì do anh H chăm sóc nuôi dưỡng. Do đó ly hôn chị N đồng ý giao cháu Vi cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị N không cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng nếu có điều kiện thì chị N sẽ tự cấp dưỡng cho con. Xét thấy việc chị N giao con cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của chị N.

Về tài sản chung: Chị N trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên HĐXX miễn xét.

Về nợ chung: Chị N trình bày không có nợ ai hoặc cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên HĐXX miễn xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì Chị Lê Thị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng các Điều 51; 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên Xử:

1/. Về hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Lê Thị N được ly hôn với anh Lê Văn H.

2/. Về con chung : Giao cháu Lê Tường Vi, sinh ngày 25/02/2017 cho anh Lê Văn H tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị Lê Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Lê Thị N có quyền được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản theo quy định của pháp luật.

3/. Về tài sản chung và nợ chung : Chị N trình bày không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.

4/. Về án phi hôn nhân gia đình sơ thẩm : Chị Lê Thị N phải chịu án phí hôn

́ nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005591 ngày 17/7/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Theo đó chị Lê Thị N không phải nô ̣p thêm.

5/. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ