vanban.org

Quyết định 120/2019/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị Ngọc T và ông Đỗ Văn Đ.

Về con chung: Ông Đỗ Văn Đ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Đỗ Minh K, sinh ngày 14/5/2003 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận ông Đỗ Văn Đ không yêu cầu bà Trần Thị Ngọc T cấp dưỡng cho con chung. Bà Trần Thị Ngọc T có nghĩa vụ tôn trọng quyền của co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc T, bị đơn ông Đỗ Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị Ngọc T và ông Đỗ Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 120/2019/QĐST-HNGĐGiồng Trôm, ngày 26 tháng 6 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 187/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2019, giữa: Bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Tây Ninh Ông Đỗ Văn Đ, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các điều 51, 55, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 18 tháng 6 năm 2019.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 18 tháng 6 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị Ngọc T và ông Đỗ Văn Đ. 2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về con chung: Ông Đỗ Văn Đ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Đỗ Minh K, sinh ngày 14/5/2003 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận ông Đỗ Văn Đ không yêu cầu bà Trần Thị Ngọc T cấp dưỡng cho con chung. Bà Trần Thị Ngọc T có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với ông Đỗ Văn Đ. Bà Trần Thị Ngọc T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp bà Trần Thị Ngọc T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông Đỗ Văn Đ có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà T. Ông Đỗ Văn Đ có quyền yêu cầu bà Trần Thị Ngọc T cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng cho con. Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Trần Thị Ngọc T và ông Đỗ Văn Đ không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về nợ chung: Bà Trần Thị Ngọc T và ông Đỗ Văn Đ khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Ngọc T tự nguyện chịu 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004073 ngày 27/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm. Bà Trần Thị Ngọc T được nhận lại số tiền chênh lệch là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai nêu trên. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ