vanban.org

Quyết định 12/QĐ-TA

TAND Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ Tuyên án 22/01/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Văn Đ.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ông Lê Văn Đ có quyền khiếu nại, Phòng Lao động Thương binh và ã hội quận B có quyền kiến nghị, đại diện Viện kiể… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "ADBP XLHC cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B THÀNH PHỐ C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/QĐ-TAB, ngày 22 tháng 01 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ C

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có :

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thúy Quyên

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương

Ngày 21 tháng 01 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố C tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 46/2021/QĐ-TA ngày 14 tháng 01 năm 2021, đối với:

Họ và tên: Lê Văn Đ, sinh ngày 14/9/1997 tại C; CMND số: 092097000754. Ngày cấp: 23/7/2018; nơi cấp: Cục Cảnh sát; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình dộ văn hóa 9/12; nguyên quán: L, quận B, thành phố C; nơi thường trú: Số 164/PT, tổ 7, khu vực Th B, phường L, quận B, thành phố C; nơi ở hiện tại: Số 164/PT, tổ 7, khu vực Th B, phường L, quận B, thành phố C; nghề nghiệp: Sửa xe; tiền án: Ngày 07/7/2017, trộm cắp tài sản, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố C xử 01 năm tù theo bản án số 25/HSST ngày 02/10/2017, số lưu trữ: 5379AK19/815CN; tiền sự: Ngày 20/5/2019 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, quận B, thành phố C ban hành Quyết định số 03/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày 20/5/2020 đến 19/8/2019; con ông Lê Văn S và mẹ bà Trần Thị L. Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hữu Hiệp, chuyên viên Phòng Lao động Thương binh và ã hội quận B, thành phố C (Có mặt);

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố C: Ông Tạ Bá Nhịn – Kiểm sát viên (Có mặt).

3. Đại diện Công an phường L, quận B, thành phố C: Ông Nguyễn Phạm Duy – Cảnh sát khu vực Th B (Có mặt).

NHẬN THẤY:

Ông Lê Văn Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, là đối tượng nghiện ma túy được Công an phường L đưa vào danh sách theo dõi. Đ khai nhận bản thân nghiện ma túy từ năm 2017. Ngày 23/4/2019 Công an phường L phối hợp với Trạm y tế phường tiến hành kiểm tra và phát hiện Đ có sử dụng ma túy nên lập hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND phường L áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Ngày 20/5/2019 Chủ tịch UBND phường L ban hành Quyết định 03/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Đ, thời hạn 03 tháng kể từ ngày 20/5/2019 đến 19/8/2019. Đ chấp hành xong và được Chủ tịch UBND phường L cấp Giấy chứng nhận số 03/GCN-UBND ngày 20/8/2019.

Đến ngày 17/12/2020 Đ sử dụng ma túy thì ngày 18/12/2020 Công an phường phối hợp với Trạm y tế phường L tiến hành test nhanh mẫu thử nước tiểu, kết quả dương tính với chất ma túy đá loại Amphetamine. Tại các bản tường trình và biên bản làm việc Đ thừa nhận có sử dụng ma túy đá. Công an phường L đã lập biên bản vi phạm hành chính và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.

Ngày 11/01/2021 Phòng Lao động Thương binh và ã hội quận B ban hành văn bản số 15/ĐN-PLĐTB H đề nghị Tòa án nhân dân quận B áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông Lê Văn Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ, Tòa án nhân dân quận B, thành phố C mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Lê Văn Đ.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động Thương binh và ã hội quận B, thành phố C có ý kiến: Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Phòng Lao động Thương binh và ã hội tại Điều 13 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ. Trưởng phòng Tư pháp quận B đã có Thông báo kết luận hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn Đ là hợp pháp và đầy đủ thủ tục theo quy định. Trên cơ sở đó, Phòng Lao động Thương binh và ã hội quận B đề nghị Tòa án nhân dân quận B xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng đến 24 tháng đối với ông Lê Văn Đ.

Đại diện Công an phường L: Thống nhất với đề nghị của đại diện Phòng Lao động Thương binh và ã hội quận B, thành phố C.

Người bị đề nghị ông Lê Văn Đ có ý kiến cho rằng bản thân luôn chấp hành quy định pháp luật tại địa phương, là lao động chính trong gia đình nên yêu cầu được cai nghiện tại gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B phát biểu quan điểm: Về trình tự lập hồ sơ đề nghị: Đảm bảo đầy đủ thủ tục và đã được Trưởng phòng Tư pháp quận B kiểm tra tính pháp lý theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 103 và Điều 104 Luật ử lý vi phạm hành chính; Đối tượng bị đề nghị đúng quy định khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; thời hiệu: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 4 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 việc đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và ã hội là có cơ sở, còn thời hiệu theo quy định; Trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án: Đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định.

Về nội dung: Từ những căn cứ do địa phương cung cấp nhận thấy đủ cơ sở xác định ông Lê Văn Đ sử dụng trái phép chất ma túy. Trong quá trình làm việc Đ đã thành khẩn khai báo. Tuy nhiên, căn cứ thông báo kết quả tra cứu số 54655 ngày 28/12/2020 của Phòng hồ sơ, Công an thành phố C Đ có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 02/10/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Phong Điền xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Từ đó, cho thấy ngoài hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Đ còn có hành vi vi phạm pháp luật khác, Đ đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường nhưng vẫn không hối cải. Do vậy, đề nghị đưa ông Lê Văn Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đầy đủ theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính là còn thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Thẩm quyền, trình tự, thủ lập hồ sơ: Đầy đủ và đúng quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Hành vi vi phạm của người bị đề nghị: Ông Lê Văn Đ là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính. Ngày 23/4/2019 Công an phường L kết hợp với Trạm y tế phường xét nghiệm phát hiện Đ dương tính với chất ma túy. Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, quận B đã ban hành Quyết định số 03/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 03 tháng kể từ ngày 20/5/2019 đến 19/8/2019, tạo điều kiện cho Đ tự mình cai nghiện tại cộng đồng. Đ chấp hành xong và được Chủ tịch UBND phường L cấp Giấy chứng nhận số 03/GCN-UBND ngày 20/8/2019. Tuy nhiên, đến ngày 17/12/2020 Đ lại sử dụng ma túy. Ngày 18/12/2020 Công an phường phối hợp với Trạm y tế phường L tiến hành test nhanh mẫu thử nước tiểu, kết quả dương tính với chất ma túy đá loại Amphetamine. Công an phường L lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Đ vào cơ sở cai nghiện ma túy là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013. Phòng Lao động Thương binh và ã hội quận B đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có cơ sở.

Việc Đ cho rằng bản thân chấp hành tốt quy định pháp luật ở địa phương, là lao động chính trong gia đình nên xin cai nghiện tại nhà không có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, trước đó ngày 07/7/2017 Lê Văn Đ có hành vi trộm cắp tài sản, đã bị Tòa án nhân dân huyện Phong Điền xử phạt 01 năm tù tại bản án số 25/HSST ngày 02/10/2017. Sau khi chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn của Chủ tịch UBND phường L thì Đ tiếp tục sử dụng ma túy, điều đó cho thấy, Đ không tự cai nghiện ma túy tại nhà được. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp phù hợp quy định pháp luật nên Tòa án chấp nhận.

- Căn cứ vào Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 105 của Luật ử lý vi phạm hành chính;

- Căn cứ vào Điều 3 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

- Căn cứ vào Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Văn Đ.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Ông Lê Văn Đ có quyền khiếu nại, Phòng Lao động Thương binh và ã hội quận B có quyền kiến nghị, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B có quyền kháng nghị, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định này: Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố C: Số 791, Khu vực X, phường H, thành phố Ng, tỉnh H.

Cỡ chữ