vanban.org

Quyết định 12/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/QĐ-TAC, ngày 12 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LẠNG SƠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Phan Thị Thanh Huyền

2. Thư ký phiên họp: Ông Nông Văn Đông.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 12/QĐ-TA ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với:

Nông Văn N; giới tính: Nam; sinh ngày 29 tháng 8 năm 1987; căn cước dân: 020087006599, ngày cấp 01 tháng 9 năm 2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 4/12; nguyên quán: Xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 11/10/2021 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 02 (hai) năm (đến nay chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); nhân thân: Ngày 15/01/2020 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn xét xử 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; con ông Nông Quốc B (đã chết) và con bà Triệu Thị B1. Nông Văn N vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn: Ông Hoàng Văn T - Phó Trưởng phòng.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn: Ông Nông Ngọc Hưng - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Nông Văn N là người nghiện ma túy và thuộc đối tượng quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú. Đang trong thời gian bị quản lý, Nông Văn N không chấp hành tốt các quy định của pháp luật, lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 21/6/2024 của Công an xã B đối với Nông Văn N cho kết quả dương tính với chất ma túy, đồng thời lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực an ninh trật tự. Tại phiếu kết quả xác định người nghiện chất ma túy của Trạm y tế xã bằng Mạc, huyện C ngày 25/6/2024 cho kết quả Nông Văn N nghiện chất ma túy Heroin. Công an xã B ban hành thông báo số: 33/TB-CAX ngày 25/6/2024 thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy. Ngày 25/6/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B lập biên bản vi phạm về cai nghiện tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, cùng ngày Chủ tịch UBND xã ban hành Thông báo số: 18/TB-UBND thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và ban hành quyết định số 132/QĐ-QLNN quyết định về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 28/6/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B đã ban hành công văn số 01/ĐN-CNBB đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai ngiện bắt buộc đối với Nông Văn N.

Sau khi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện, Nông Văn N đã khai và viết bản tường trình tại Công an xã B, huyện C khẳng định bản thân sử dụng ma túy từ năm 2009, hiện nay vẫn thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, lần sử dụng gần nhất là vào ngày 21/6/2024, đã bị lập biên bản vi phạm hành chính và được thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn trình bày ý kiến: Đối tượng Nông Văn N là người nghiện ma túy đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn N. Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; ngày 15/01/2020 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn xét xử 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản nên được coi là có nhân thân xấu. Ngày 11/10/2021 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 02 (hai) năm, chấp hành xong ngày 18/10/2023 đến nay chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Nông Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là từ 18 đến 22 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm xét họp Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 3, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 12, Điều 13, Điều 17, Điều 18, Điều 21 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 106 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40, Điều 42 Điều 43, Điều 44, Điều 46 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, xét thấy có căn cứ đưa Nông Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian chấp hành từ 18 tháng đến 22 tháng theo đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn N được thực hiện như sau:

Hồ sơ đề nghị đã có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính gồm: Phiếu kết quả xét nghiệm người nghiện ma túy; bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị đầy đủ theo quy định; Quyết định số: 132/QĐ-QLNN Quyết định về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; các tài liệu chứng minh những hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng Nông Văn N, thể hiện rõ hành vi vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy, phù hợp theo quy định tại Điều 95, 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính cùng với bản tường trình của người vi phạm.

Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm. Tính từ ngày 21/6/2024 là ngày Nông Văn N thực hiện hành vi vi phạm lần cuối bị phát hiện thì thời hiệu vẫn đảm bảo phù hợp theo quy định.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Nông Văn N là nam giới, sinh ngày 29/8/1987, không có căn cứ chứng minh bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính nên đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Tại thời điểm Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chính quyền địa phương nơi đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã xác nhận đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú nên đối tượng đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 12 Điều 2, khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021.

Thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là đúng theo quy định của pháp luật: Theo khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, đối tượng có nơi thường trú ổn định tại xã B, huyện C nên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B và Công an xã có trách nhiệm thu thập tài liệu lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn N.

Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn N là đầy đủ trình tự, thủ tục, đảm bảo hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Hành vi của Nông Văn N là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân Nông Văn N đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm các quy định của pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, Nông Văn N đã không tuân thủ các quy định của pháp luật về cai nghiện ma túy tự nguyện, vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm do vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Nông Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 đến 22 tháng. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Nông Văn N gây ra thì cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn N trong một thời gian nhất định để Nông Văn N lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục Nông Văn N trở thành người công dân có ích cho gia đình, cho xã hội và phòng ngừa chung tội phạm tuy nhiên cũng cần xem xét đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của đối tượng để đưa ra mức áp dụng cho phù hợp. Xét về nhân thân: ngày 15/01/2020 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn xét xử 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và là người nghiện ma túy nên là người có nhân thân xấu. Có 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; không có tiền án. Về tình tiết tăng nặng: Ngày 11/10/2021 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 02 (hai) năm, chấp hành xong ngày 18/10/2023 đến nay chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Về tình tiết giảm nhẹ: Nông Văn N tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Trên cơ sở xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xét thấy mức đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện C và Viện kiểm sát nhân dân huyện C tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105 và Điều 106 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy.

Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 12, Điều 13, Điều 17, Điều 18, Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 31, Điều 32, Điều 33 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Căn cứ Điều 40, Điều 42, Điều 43, Điều 44, Điều 46; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: K, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đối với Nông Văn N, sinh ngày 29 tháng 8 năm 1987; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (ngày 12 tháng 7 năm 2024).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Cỡ chữ