- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Giàng Thị h - Vàng Thị V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của cháu Giàng Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2020/QĐST - DS | Q, ngày 01 tháng 7 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Cao Danh Nhân.
Thư ký phiên họp: Ông Vũ Hữu Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Ông Hồ Lỷ Xuân – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2020/TLST – DS ngày 09 tháng 01 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số: 12/2020/QĐST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2020.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Cháu Giàng Thị H, sinh ngày 25/12/2012; địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện Q, tỉnh Hà Giang.
- Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Giàng Pà L, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện Q, tỉnh Hà Giang, là người đại diện theo pháp luật của người yêu cầu (Ông nội của người yêu cầu).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Hoàng Ngọc Chung, là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Giang.
- Người có quyền lợi liên quan (người bị yêu cầu tuyên bố mất tích): Chị Vàng Thị V, sinh năm 1996; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn M, xã L, huyện Q, tỉnh Hà Giang.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự cháu Giàng Thị H trình bày: Mẹ tôi tên là Vàng Thị V, sinh năm 1996, bố tôi tên là Giàng Mí S, sinh năm 1993, đã chết năm 2016 nơi cư trú tại Thôn M, xã L, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Năm 2015, mẹ tôi đã bỏ nhà đi không rõ lý do, đến nay không có tin tức gì. Gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhiều lần ở nhiều nơi nhưng không có tin tức gì. Vì vậy tôi đề nghị Tòa án tuyên bố mẹ tôi mất tích theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp người đại diện hợp pháp của người yêu cầu trình bày: Con trai tôi tên là Giàng Mí S, sinh năm 1993 chung sống với chị Vàng Thị V, sinh năm 1996 từ năm 2012 tại thôn M, xã L, huyện Q, tỉnh Hà Giang không đăng ký kết hôn và có với nhau 01 con chung là Giàng Thị H, sinh năm 2012. Đến năm 2015, chị Vàng Thị V bỏ nhà đi biệt tích đến nay không liên lạc được, không có tin tức gì, gia đình đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng không có tin tức gì. Năm 2016, con trai tôi là Giàng Mí S qua đời, để lại cháu H cho tôi phải nuôi dưỡng. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án tuyên bố chị Vàng Thị V mất tích để cháu tôi được hưởng các chế độ của nhà nmước.
Người bảo vệ quyền vài lợi ích hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự đề nghị Tòa án: Áp dụng Điều 47, Điều 48, Điều 52, Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, Điều 361 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu của cháu Giàng Thị H, quyết định tuyên bố chị Vàng Thị V mất tích theo quy định của pháp luật, để cháu H được hưởng các chế độ trợ cấp theo quy định của pháp luật, giảm bớt phần nào khó khăn, thiệt thòi cho các cháu.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên họp:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ việc cho đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, Thẩm phán, thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; người yêu cầu và người đại diện hợp pháp của người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, hợp tác tốt với Tòa án.
Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân huyện Q đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, đã hết thời hạn 04 tháng nhưng chị Vàng Thị V vẫn không có mặt tại địa phương và không có tin tức chị đang ở đâu. Viện kiểm sát nhân dân huyện Q đề nghị Tòa án nhân dân huyện Q căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự, Điều 369, Điều 370 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự đề chấp nhận yêu cầu của cháu Giàng Thị H, ra quyết định tuyên bố chị Vàng Thị V mất tích. Về lệ phí tòa án, đề nghị miễn lệ phí cho cháu H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Q nhận định:
Anh Giàng Mí S, sinh năm 1993 chung sống với chị Vàng Thị V, sinh năm 1996 từ năm 2012 tại thôn M, xã L, huyện Q, tỉnh Hà Giang không đăng ký kết hôn và có với nhau 01 con chung là Giàng Thị H, sinh năm 2012. Đến năm 2015, chị Vàng Thị V bỏ nhà đi biệt tích đến nay không liên lạc được, không có tin tức gì. Gia đình đã đi tìm kiếm chị V nhiều lần ở nhiều nơi nhưng không thấy tin tức gì về chị Vàng Thị V, tính đến nay chị V đã biệt tích được 05 năm. Việc chị Vàng Thị V biệt tích được cơ quan quản lý hộ khẩu Công an và Ủy ban nhân dân xã L, huyện Q, tỉnh Hà Giang xác nhận chị V đã đi khỏi nơi cư trú từ năm 2015 cho đến nay chị V không có mặt tại nơi cư trú và không có tin tức gì về chị Vàng Thị V. Tháng 6/2016, anh Giàng Mí S bị suy kiệt cơ thể và đã qua đời. Vì vậy cháu Giàng Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Vàng Thị V mất tích theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý việc dân sự theo đơn yêu cầu của cháu Giàng Thị H, Tòa án nhân dân huyện Q đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Vàng Thị V. Thông báo tìm kiếm chị Vàng Thị V đã được Báo Công Lý đăng tin trên 03 số báo liên tiếp số 17, 18, 19 ra các ngày 26, 28/02/2020 và ngày 04/3/2020; Đài tiếng nói Việt Nam đã phát tin nhắn tìm chị Vàng Thị V trong 03 ngày liên tiếp, phát vào 17 giờ 30 phút các ngày 22,23,24/02/2020. Đến nay đã hết thời hạn thông báo nhưng vẫn không có tin tức xác thực về chị Vàng Thị V còn sống hay đã chết.
Từ những nhận định trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của cháu Giàng Thị H.
Về phí nhắn tìm chị Vàng Thị V đăng trên báo Công lý và phát trên đài tiếng nói Việt Nam, được Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Giang đã chi trả đủ.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự:
Vì cháu H là trẻ em nên căn cứ khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn lệ phí cho cháu Giàng Thị H.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của cháu Giàng Thị H.
Tuyên bố chị Vàng Thị V, sinh năm 1996; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn M, xã L, huyện Q, tỉnh Hà Giang mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn lệ phí cho cháu Giàng Thị H.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người đại diện hợp pháp của người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Giang; - VKSND huyện Q; - Người yêu cầu; - UBND xã L; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN Cao Danh Nhân |