vanban.org

Quyết định 12/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn K.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 năm 06 tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được giao quản lý tại cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Vĩnh Phúc. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc có quyền kháng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Văn K đưa đi cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẠC
TỈNH VĨNH PHÚC
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2025/QĐ-TAYên Lạc, ngày 15 tháng 5 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Hoàng Tuấn Mạnh

2. Thư ký phiên họp: Bà Cao Thị Hải Yến

Ngày 15 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành phiên họp xem xét, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 10/QĐ-TA ngày 12 tháng 5 năm 2025, đối với:

Họ và tên: Lê Văn K, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1997; Nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 09/12; Con ông: Lê Văn C, sinh năm 1973 và bà: Tạ Thị L, sinh năm 1971.

Với sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đoàn Ngọc Đ, Phó trưởng Công an xã B, huyện Y.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc: Bà Nguyễn Thị Kim Huyền, Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Lê Văn K có nơi cư trú ổn định tại Thôn C, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc và là đối tượng nghiện ma túy loại ma túy heroine từ tháng 9 năm 2023 đến nay. Ngày 16/4/2025, Công an xã B có văn bản số 01/GĐN-CAX đề nghị Trạm y tế xã B xác định tình trạng nghiện ma túy đối với K. Trạm y tế xã B đã tiến hành theo dõi để xác định tình trạng nghiện ma túy đối với K. Kết quả, tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 21/4/2025, Trạm y tế xã B kết luận: Lê Văn K là người nghiện chất ma túy loại ma túy Heroine. Tại Biên bản ghi lời khai, Bản kiểm điểm, Bản tường trình ngày 16/4/2025 và các biên bản làm việc tiếp theo Lê Văn K xác định có nghiện ma tuý loại ma túy Heroine, khoảng 10 ngày trước bị cáo có sử dụng ma túy, sử dụng bằng phương thức hít ma túy trực tiếp vào cơ thể, tần suất trung bình khoảng 05 ngày đến 07 ngày sử dụng 1 lần, mỗi lần sử dụng khoảng 300.000 đồng. Khi không có ma tuý bản thân Kiểm cảm thấy mệt mỏi, khó chịu và thèm muốn sử dụng ma tuý. Bản thân K xác nhận kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế xã B là khách quan. Sau khi có kết quả tình trạng nghiện ma túy, ngày 21/4/2025, Công an xã B đã thông báo cho K biết việc đăng ký tự nguyện cai nghiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo. Hết thời hạn nêu trên K đã không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Ngày 26/4/2025, Công an xã B làm việc với K, K khai nhận từ ngày nhận được thông báo về việc điều trị ma túy Heroine hoặc tham gia các chương trình cai nghiện tự nguyện, K không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và Công an xã B có biên bản làm việc với UBND xã B về việc Kiểm không đăng ký các chương trình cai nghiện tự nguyện. Ngày 26/4/2025 Ủy ban nhân dân xã B đã lập biên bản vi phạm về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện đối với Lê Văn K. Ngày 26/4/2025, Công an xã B ra tờ trình về việc lập hồ sơ cai nghiện bắt buộc đối với K và UBND xã B ra quyết định số 73/QĐ-UBND ngày 26/4/2025 về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biên pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và đồng thời tiến hành giao cho ông Lê Văn C là bố đẻ của Lê Văn K quản lý Kiểm trong thời gian lập hồ sơ. Kiểm đã được đọc hồ sơ và nhất trí không có ý kiến gì. Đến ngày 29/4/2025, Công an xã B có văn bản số 05/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn K và chuyển toàn bộ hồ sơ, đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn K theo thẩm quyền.

Tại phiên họp, đại diện Công an xã B, huyện Y giữ nguyên ý kiến và đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn K với thời hạn từ 15 tháng đến 18 tháng tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã đảm bảo đầy đủ trình tự, thủ tục và đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật phòng, chống ma túy; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ, Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn K với thời hạn từ 15 tháng đến18 tháng.

Tại phiên họp Kiểm vắng mặt, tuy nhiên quá trình lập hồ sơ đối tượng thừa nhận việc sử dụng ma túy Heroine là đúng, K đã tự trình bày có hành vi sử dụng ma túy và không đi đăng ký cai nghiện tự nguyện như trên.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, của Kiểm sát viên thấy: Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng, chống ma túy; Điều 41, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ. Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT–BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xử lý vi phạm hành chính: Quá trình làm việc K đã thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của mình, đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9, K không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Kiểm không có tiền án, tiền sự, chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nào. Bản thân K là người thường xuyên sử dụng ma túy, hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và không đi đăng ký cai nghiện tự nguyện của Lê Văn K xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tác hại cho sức khoẻ, phẩm giá, thiệt hại về tài sản của đối tượng và gia đình. Hành vi của Lê Văn K đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy vì vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn K. Do K có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng nào, đồng thời chưa từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vì vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian đối với Lê Văn K như đề nghị của Công an xã B là phù hợp.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, khoản 2 Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 106, Điều 107, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Q.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn K.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 năm 06 tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được giao quản lý tại cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Vĩnh Phúc.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc có quyền kháng nghị, Công an xã B có quyền kiến nghị; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại quyết định này trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an xã B, huyện Y; cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc và Lê Văn K có trách nhiệm thi hành quyết định này./.

Cỡ chữ