- Tranh chấp gì? "Ma Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với Ma Văn T, sinh năm 1989, nơi thường trú: xóm N, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:12/2025/QĐ- TA | Phú Lương, ngày 28 tháng 02 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Chu Thị Bích Hiền
2. Thư ký phiên họp: Bà Nông Thị Diễm
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 12/2025/QĐ-TA ngày 21 tháng 02 năm 2025, đối với:
Họ và tên: Ma Văn T, sinh năm 1989; Giới tính: Nam, số căn cước công dân: 019089008817, nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH-BCQ; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Nơi thường trú: xóm N, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Con ông: Ma Văn T1 và bà: Nguyễn Thị H, có vợ là Lô Thị H1, có 01 con. Tiền án: không
Tiền sự: 01- Tại Quyết định số 07/2023/QĐ-TA ngày 21/02/2023 Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng
Nhân thân:01-Tại Quyết định số 06/2021/QĐ-TA ngày 26/02/2021 Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng
(Có mặt tại phiên họp)
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đỗ Thanh B – Chức vụ: Phó Trưởng phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương: Ông Triệu Đức Hoàng - Chức vụ: Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Ma Văn T là người nghiện ma túy từ 2016, loại ma túy thường sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là chích, ngày 20/9/2024 Ma Văn T chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, ngày 27/09/2024 Ủy ban nhân dân xã Y ban hành Quyết định số 363/QĐ-UBND quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời hạn quản lý đến ngày 27/9/2026.
Ngày 06/02/2025 Công an xã Y, huyện P đề nghị Trạm y tế xã Y, huyện P xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Ma Văn T, ngày 10/02/2025 Trạm y tế xã Y, huyện P có Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy xác định Ma Văn T có nghiện ma túy, loại ma túy: Heroine (nhóm M1).
Ngày 10/02/2025, Ủy ban nhân dân xã Y, huyện P ban hành Quyết định số 32/QĐ-UBND Quyết định Dừng quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, ngày 11/02/2025 Ủy ban nhân dân xã Y, huyện P lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Ma Văn T theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy năm 2021
Ngày 14/02/2025 Công an xã Y, huyện P ban hành Thông báo số 02/TB-CAYT về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và ngày 20/02/2025 Ủy ban nhân dân xã Y, huyện P ban hành Quyết định số 25/QĐ-QLNN về việc giao Ma Văn T cho Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên quản lý từ ngày 20/02/2025
Ngày 21/02/2025 Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P ban hành văn bản số 103/ĐN-CNBB đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Văn T.
Tại phiên họp Đại diện phòng Lao động - thương binh & Xã hội huyện P xác định T là người nghiện ma túy đã vi phạm khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021 đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Văn T với thời hạn từ 18-24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương phát biểu quan điểm: Về trình tự, thủ tục tiến hành lập hồ sơ đề nghị đã thực hiện theo đúng quy định Luật xử lý vi phạm hành chính và các nghị định hướng dẫn. Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định pháp luật, Tòa án thụ lý và giải quyết vụ việc theo đúng thẩm quyền. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ cở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Văn T thời hạn 18-24 tháng.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, sau khi nghe ý kiến của cơ quan đề nghị, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương và của người bị đề nghị tại phiên họp:
XÉT THẤY
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, trên cơ sở ý kiến của những người tham gia phiên họp, thấy rằng:
Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Văn T đảm bảo theo quy định điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hồ sơ đề nghị được thiết lập đảm bảo theo quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Ma Văn T bị áp dụng Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú thời hạn đến ngày 27/9/2026 theo Quyết định số 363/QĐ-UBND ngày 27/9/2024 củy Ủy ban nhân dân xã Y, huyện P. Ngày 06/02/2025 T tiếp tục sử dụng ma túy, Công an xã Y có phiếu đề nghị xác định tình trạng nghiện của T, tại Phiếu kết quả tình trạng nghiệm ma túy ngày 10/02/2025 của Trạm y tế xã Y xác định Ma Văn T nghiện ma túy, loại Heroin (nhóm M), ngày 11/02/2025 Ủy ban nhân dân xã Y, huyện P đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Ma Văn T vi phạm khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021 với hành vi “Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện”
Như vậy, Ma Văn T là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nhận thức được việc sử dụng Heroin là trái phép, tuy nhiên “Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện” do đó T là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020)
Xét hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Ma Văn T là trái quy định của pháp luật, xâm phạm quyền quản lý, sử dụng độc quyền chất ma túy của Nhà nước, hành vi đó không chỉ hủy hoại sức khỏe của bản thân, làm khánh kiệt kinh tế gia đình, mà việc sử dụng chất ma túy còn là nguồn gốc, điều kiện nảy sinh, lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và tội phạm khác gây mất trật tự trị an địa phương đồng thời gây tác động tiêu cực đến quá trình đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Do đó, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Văn T để tạo điều kiện cho T được chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, học tập văn hóa, lao động đồng thời để hạn chế tái nghiện ở cộng đồng, giúp T trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Trong quá trình lập hồ sơ T đã tự nguyện viết bản tường trình, tự nguyện khai báo, do đó xem xét cho T được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính, xét Ma Văn T có nhân thân xấu, nhiều lần bị áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tuy nhiên không bỏ được ma túy mà tiếp tục tái nghiện do đó phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính do đó xem xét khi áp dụng thời hạn cai nghiện bắt buộc đối với T
Đề nghị của Phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện P và đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Văn T là có căn cứ, phù hợp được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96, 103, 104, 105 và Điều 106 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; các Điều 40, khoản 1 Điều 41, Điều 42 và Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy và Nghị quyết số: 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
QUYẾT ĐỊNH:
1.Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với Ma Văn T, sinh năm 1989, nơi thường trú: xóm N, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi tư) tháng, tính từ ngày 20/02/2025.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận quyết định. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện P phối hợp với Công an huyện P đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.
| Nơi nhận: - Phòng LĐ -TB&XH huyện P; - VKSND huyện P; - Công an huyện P; - UBND xã Y; - Người bị áp dụng ; - Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Chu Thị Bích Hiền |