vanban.org

Quyết định 12/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn S.

Tuyên bố ông Trần Minh H, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số H, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Ông Trần Văn S là người giám hộ cho ông Trần Minh H. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo Điều 57 và Điều 58 của Bộ luật dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người có khăn trong nhận thức làm chủ hành vi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2024/QĐST-DSL, ngày 26 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH ĐỒNG THÁP.

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh.

Thư ký phiên họp: Ông Bùi Lê Phú Quý là Thư ký Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Trọng Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lấp Vò mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 330/2024/TLST-VDS, ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 09/2024/QĐST-VDS ngày 12 tháng 7 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Văn S, sinh năm 1965; Địa chỉ: số H, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Minh H, sinh năm 1964; Địa chỉ: số H, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp;

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Trần Văn S trình bày: Ông S là em ruột của ông Trần Minh H, cha của ông S và ông H là cụ Trần Chỉnh P và bà Nguyễn Thị Đ đều đã chết, ông H không vợ con, ông H hiện do ông S nuôi dưỡng. Hiện nay ông S đang làm các thủ tục về quyền sử dụng đất nhưng ông H bị bệnh tâm thần phân liệt từ nhỏ đến nay, tinh thần ông H không được minh mẫn như người bình thường. Nay ông Trần Văn S yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Minh H, sinh năm 1964 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và ông S là người giám hộ cho ông H để làm các thủ tục về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Từ khi thụ lý đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự cũng như tại phiên họp Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Người yêu cầu cũng chấp hành pháp luật đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và kết luận giám định pháp y tâm thần số 288/2024/KLGĐ ngày 08/7/2024 của Trung tâm P1 kết luận: Ông Trần Minh H hiện tại bị bệnh lý tâm thần: Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3-ICD10), giai đoạn bệnh thuyên giảm. Hiện tại ông H có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Đề nghị Chủ toạ phiên họp áp dụng khoản 1 Điều 23, điểm d khoản 1 Điều 47, Điều 53, Điều 54 Bộ luật dân sự 2015 chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn S, tuyên bố ông Trần Minh H, sinh năm 1964 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và xác định ông Trần Văn S là người giám hộ cho ông Trần Minh H.

Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo Điều 57 và Điều 58 Bộ luật dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò nhận định:

Về tố tụng: Tại đơn yêu cầu đề ngày 14/6/2024, ông S yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Minh H bị mất năng lực hành vi dân sự, đơn thay đổi yêu cầu ngày 12/7/2024 yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Minh H là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó, xác định loại việc dân sự Toà án thụ lý giải quyết là “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”. Ông H có hộ khẩu và đang cư trú tại huyện L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện L theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện ông Trần Minh H có bệnh lý tâm thần phân liệt, sự phát triển tâm thần - vận động chậm hơn so với tuổi, đi lại khó khăn, khả năng giao tiếp hạn chế, việc ăn uống, vệ sinh cá nhân cần người thân trợ giúp. Về triệu chứng tâm thần: Ý thức: Tỉnh; định hướng lực: Đúng; Tư duy nhịp chậm, nội dung rời rạc, có lúc không liên quan, chưa ghi nhận hoang tưởng, ám ảnh, định kiến; tri giác chưa ghi nhận ảo giác, ảo tưởng; cảm xúc thiếu hòa hợp; hành vi vô tổ chức; tập trung chú ý giảm; trí nhớ, trí năng giảm. Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 288/2024/KLGĐ ngày 08/7/2024 của Trung tâm P1 kết luận: Ông Trần Minh H hiện tại bị bệnh lý tâm thần: Tâm thần phân liệt thể không biệt định, giai đoạn bệnh thuyên giảm (F20.3 - ICD10), ông H có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Kết luận giám định pháp y của Trung tâm P1 phù hợp với lời trình bày của ông S và trình trạng hiện tại của ông Trần Minh H và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó có đủ cơ sở kết luận ông Trần Minh H là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Căn cứ vào khoản 1 Điều 23 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của ông S. Tuyên bố ông Trần Minh H là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Về xác định người giám hộ: Ông Trần Minh H không vợ con, cha mẹ đã chết, ông Trần Văn S là em ruột của ông H nuôi ông Hiền t khi cha Trần Chỉnh P và mẹ Nguyễn Thị Đ chết đến nay, nên theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 47, Điều 53 và Điều 54 Bộ luật dân sự xác định ông Trần Văn S là người giám hộ cho ông Trần Minh H.

Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo Điều 57 và Điều 58 của Bộ luật dân sự.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trần Văn S phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000đ theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 và Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 23, điểm d khoản 1 Điều 47, Điều 53, Điều 54, Điều 57 và Điều 58 Bộ luật dân sự.

Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn S.

Tuyên bố ông Trần Minh H, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số H, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Ông Trần Văn S là người giám hộ cho ông Trần Minh H. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo Điều 57 và Điều 58 của Bộ luật dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Trần Văn S phải nộp số tiền lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000đ, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí mà ông H đã nộp theo biên lai số 0007518 ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L.

3. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định; Người yêu cầu có quyền kháng cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ