vanban.org

Quyết định 12/2024/QĐ-TA

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 27/02/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H1.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Nguyễn Văn H1 là 08 (tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị L2 được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H1.
  • Căn cứ chính? Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy; Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục Tòa án nhân…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 12/2024/QĐ-TA
Long Xuyên, ngày 27 tháng 02 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thùy Giang

2. Thư ký phiên họp: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc

Ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 13/2024/QĐ-TA ngày 16 tháng 02 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn H1;Giới tính: Nam;

Sinh ngày: 01 tháng 01 năm 2012; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Phật giáo;

Trình độ văn hóa: 01/12;Nghề nghiệp: Không có;

Nơi đăng ký thường trú: Không có;

Nơi cư trú hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định ;

Số định danh cá nhân, chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân: 089212000530;

Con ông: Không xác định và bà: Đặng Thị L1 (Đã chết);

Tiền án: Không;Tiền sự: Không;

Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Tô Thanh T2 – Công chức Phòng Lao động

- Thương binh và Xã hội thành phố L (theo văn bản ủy quyền của Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L: Ông Kiều Văn L – Kiểm sát viên.

3. Người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 2004; cư trú: Tổ B, khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt);

4. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị: Bà Văng Thị V, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt).

NHẬN THẤY:

Hồi 08 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 01 năm 2024, Công an phường M, thành phố L mời Nguyễn Văn H1 (sinh năm 2012, khai hiện bản thân sống không có nơi cư trú ổn định), để thử test tìm chất ma túy, kết quả dương tính với M (Còn gọi là ma túy đá). Quá trình thẩm vấn tại Công an phường M, H1 thừa nhận có sử dụng ma túy đá trái phép. Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm Y tế thành phố L, kết luận H1 nghiện Methamphetamine. Ngày 15 tháng 01 năm 2024, Ủy ban nhân dân phường M ban hành Quyết định số 21/QĐ-UBND, giao H1 cho Nguyễn Thị L2 (sinh năm 2004, hiện tạm trú Tổ B, khóm N, phường M, thành phố L) là chị ruột của Nguyễn Văn H1 quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Biên bản xác minh về tình trạng cư trú của người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 15 tháng 01 năm 2024, xác định: Nguyễn Văn H1 có mẹ ruột đã chết, bản thân thực tế có sống cùng bà ngoại và chị ruột tại Tổ B, khóm N, phường M, thành phố L, nhưng hoàn toàn không có đăng ký thường trú hoặc tạm trú và từ tháng 8 năm 2023 đến nay không biết đi đâu, làm gì. Như vậy tại thời điểm Công an phường M mời thử test tìm chất ma túy thì H1 thuộc diện sống không có nơi ổn định.

Ngày 19 tháng 01 năm 2024, sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý, đồng thời không nhận được ý kiến đăng ký các hình thức cai nghiện theo quy định tại Luật Phòng, chống ma túy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường M có Công văn số 04/ĐN-UBND đề nghị đưa H1 đi cai nghiện ma túy bắt buộc.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L vẫn giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Văn H1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang với thời hạn từ 06 đến 12 tháng. Do Nguyễn Văn H1 là người dưới 18 tuổi, nên việc đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc không xem là biện pháp xử lý hành chính.

- Bà Văng Thị V, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A trình bày ý kiến: Đề nghị xem xét người bị đề nghị áp dụng biện pháp là người dưới 18 tuổi, nên cần áp dụng thời hạn phù hợp với độ tuổi.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: (1) Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị. Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp đã thực hiện đúng quy định theo Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24 tháng 3 năm 2022. (2) Việc áp dụng biện pháp: Nguyễn Văn H1 thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy. Về tình tiết giảm nhẹ: Nguyễn Văn H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên họp, không thể hiện được thái độ thành thật hối lỗi, nên không có tình tiết xem xét để giảm nhẹ. Tình tiết tăng nặng: Không có. (3) Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy; đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H1, thời hạn áp dụng từ 07 tháng đến 09 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung phát biểu của đại diện Cơ quan đề nghị và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, xét thấy:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L đối với Nguyễn Văn H1 thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục khoản 1 Điều 33, Điều 34 Luật Phòng, chống ma túy.

Về nhân thân: Căn cứ hồ sơ và lời khai của Nguyễn Văn H1 xác định Nguyễn Văn H1 không có tiền án, tiền sự.

Về hành vi vi phạm pháp luật: Lời khai của Nguyễn Văn H1 trong quá trình lập hồ sơ phù hợp với các kết quả xét nghiệm ma túy; kết quả xác minh nơi cư trú; biên bản vi phạm hành chính. Có đủ căn cứ xác định Nguyễn Văn H1 là người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, không có nơi cư trú ổn định, đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 10 tháng 01 năm 2024 và bị phát hiện. Bản thân H1 và gia đình không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Do đó, cần có thời gian hỗ trợ cai nghiện để hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy, đề nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L về việc đưa Nguyễn Văn H1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy nên được chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bản thân H1 tuy không có tiền án, tiền sự; nhưng khi được Tòa án triệu tập để tham gia phiên họp thì H1 vắng mặt, không thể hiện được thái độ thành thật hối lỗi, nên không xem xét áp dụng tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ đối với H1.

Do Nguyễn Văn H1 là người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành vi vi phạm pháp luật, nên việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Tòa án nhân dân quyết định và không phải là biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại khoản 4 Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy.

Căn cứ:

- Điều 33, Điều 34 Luật Phòng, chống ma túy;

- Các Điều 22, 23, 35, 36, 37 của Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24 tháng 3 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục Tòa án xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Điều 53 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H1.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Nguyễn Văn H1 là 08 (tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị L2 được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24 tháng 3 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố L có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng L phối hợp với Công an thành phố L đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ