vanban.org

Quyết định 12/2023/QĐ-TA

TAND huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 14/04/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Y T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk L… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Y T.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Nghị định số 144/2021/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành ch…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2023/QĐ-TAK, ngày 14 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Trần Đôn.

2. Thư ký phiên họp: Bà Đinh Thị Thu Hà.

Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 12/2023/QĐ-TA ngày 06/4/2023, đối với:

Họ và tên: Y T

Giới tính: Nam; Sinh ngày 8/8/2002;

Dân tộc: Êđê, Tôn giáo: Tin lành, Trình độ văn hóa: 7/12.

Nơi cư trú: Buôn K, xã DK, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông Y G(đã chết), con bà H T, sinh năm 1977

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Văn H – Phó trưởng phòng Lao động

- Thương binh và xã hội huyện K.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K: Ông Nguyễn Ngọc Huy - Kiểm sát viên

NHẬN THẤY

Y T có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại buôn K, xã DK, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 07/3/2023 Y T bị cơ quan chức năng phát hiện lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 07/3/2023 Công an xã DK, huyện Kra thông báo về việc đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện số 62A/TB-CAX yêu cầu Y T đăng ký cai nghiện tự nguyện tại UBND xã DK trong thời hạn 05 ngày. Tuy nhiên Y T không thực hiện đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện tại địa phương nên ngày 14/3/2023 UBND xã DK, huyện Klập biên bản về việc vi phạm đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện của Y T.

Quá trình làm việc, Y Tkhai nhận bắt đầu sử dụng chất ma túy từ tháng 8/2020 đến nay. Loại ma túy sử dụng là ma tuý đá, Methamphetamine, cách thức sử dụng là hút vào cơ thể, liều lượng sử dụng khoảng 100.000đ -200.000đ một lần. Công an xã DK đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Y Thuân Ê ban. Kết quả Y T dương tính với chất ma túy.

Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị ông Trần Văn H – Phó trưởng phòng Lao động -Thương binh và xã hội huyện Ktrình bày: Căn cứ vào Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật phòng chống ma túy năm 2021, Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thể hiện Y T là người nghiện ma túy từ năm 2020 đến nay. Sau khi bị phát hiện về hành vi sử dụng chất ma tuý Y T đã không thực hiện đăng ký cai nghiện tự nguyện tại địa phương, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Kxem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y T.

Người bị đề nghị Y T thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy như các tài liệu trong hồ sơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kp hát biểu ý kiến: Về thẩm quyền giải quyết vụ việc, tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng, thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng; trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại phiên họp và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đúng theo Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Káp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y T với thời hạn từ 16-24 tháng.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào các ý kiến trình bày tại phiên họp, xét thấy:

Y T là người trên 18 tuổi, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, buộc phải biết chất ma túy là chất gây nghiện, do Nhà nước độc quyền quản lý, cấm sử dụng, việc sử dụng trái phép chất ma túy sẽ gây nhiều nguy hại cho nòi giống con người và xã hội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng và còn là nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội. Y T bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 8/2020 đến nay. 07/3/2023 Y T bị cơ quan chức năng phát hiện lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cùng ngày 07/3/2023 Công an xã DK, huyện Kra thông báo về việc cai nghiện ma tuý tự nguyện số 62A/TB-CAX yêu cầu Y T đăng ký cai nghiện tự nguyện tại UBND xã DK trong thời hạn 05 ngày. Tuy nhiên Y T không thực hiện đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện tại địa phương nên ngày 14/3/2023 UBND xã DK, huyện Klập biên bản về việc vi phạm cai nghiện ma túy tự nguyện của Y T. Do đó các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y T. Việc lập hồ sơ của các cơ quan có thẩm quyền đầy đủ, đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật phòng chống ma túy năm 2021, Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

“1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.”

Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021 quy định:

Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện;

…

Trên cơ sở xem xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật, nhân thân, mức độ nhận thức về pháp luật của người bị đề nghị và ý kiến của những người tham gia phiên họp, xét thấy mặc dù biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nH Y T vẫn cố ý sử dụng, mặc dù đã được thông báo về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện nH Y T vẫn không thực hiện. Xét hành vi của Y T không chấp hành việc đăng ký cai nghiện tự nguyện, để tạo điều kiện cho Y T chữa bệnh, lao động, học tập, học nghề để trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và cộng đồng xã hội cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện K. Tuy nhiên, sau khi bị phát hiện Y T đã tự nguyện khai báo về hành vi của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 nên cần áp dụng cho Y T.

Căn cứ vào các Điều 6, khoản 1 Điều 9, khoản 2 Điều 10, Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020, Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện K, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Y T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk - Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ: Thôn 4, xã Tân Tiến, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk).

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Y T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện K; Công an huyện K.

Cỡ chữ