- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: chị Bế Thị M và anh Nông
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2021/QĐST-HNGĐ | Trùng Khánh, ngày 29 tháng 3 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào hồ sơ vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 10/2021/TLST-
HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2021, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Bế Thị M, sinh năm 1980.
Trú tại: Tổ .., thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
- Bị đơn: Anh Nông Văn Q, sinh năm 1977.
Trú tại: Tổ .., thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
Căn cứ vào các Điều 212 và 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm
2014;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày
19 tháng 3 năm 2021,
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong
biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 19 tháng 3 năm
2021 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo
đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly
hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận
đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: chị Bế Thị M và anh Nông
Văn Q.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Bế Thị M và anh Nông Văn Q tự nguyện
thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Hai bên đương sự tự thỏa thuận, sau khi ly hôn, đối với
cháu Nông Khánh L, sinh ngày 06/01/2003 và cháu Nông Khánh Đ, sinh ngày
24/11/2010 sẽ do anh Nông Văn Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến
khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Đối với cháu Nông Thị Khánh T,
sinh ngày 04/10/2005 và cháu Nông Ánh Ng, sinh ngày 28/11/2016 sẽ do chị Bế Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Chị Bế Thị M và anh Nông Văn Q không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên đương sự thỏa thuận:
01 (một) đám ruộng đang canh tác mua năm 2013, có diện tích 1.562 m2 sẽ
để lại cho cháu Đ quyền thừa kế, hiện nay sẽ do chị M quản lý sử dụng đến khi cháu Đạt đủ tuổi thừa kế. Đối với căn nhà hai gác dựng trên đất bà ngoại cho chị M toàn quyền quản lý, sử dụng.
Đối với số tiền bán đám đất trồng cafe diện tích 4.500 m2 do ông bà nội để
lại, đã bán cho chị chồng tên là Nông Thị U với giá 500.000.000 đồng, hai bên thống nhất chị M sẽ không yêu cầu chia số tiền này. Trong trường hợp người mua đòi lại tiền thì chị M không có trách nhiệm thanh toán.
- Về án phí: chị Bế Thị M và anh Nông Văn Q mỗi người phải chịu 75.000
đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng), chấp nhận sự tự nguyện của chị Bế Thị M nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
Xác nhận chị Bế Thị M đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền
tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2018/0002385 ngày 04 tháng 02 năm 2021 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh thu. Nay được hoàn lại 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng)
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và
không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh CB; - VKSND huyện; - THADS huyện; - UBND thị trấn T, huyện Trùng Khánh. ĐKKH số 26 ngày 07/4/2002 - Các đương sự; - Lưu HS. | THẨM PHÁN (đã ký) Lục Thanh Hải |