- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nguyễn Văn Hải"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn H.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2021/QĐST-DS | TP.Cà Mau, ngày 16 tháng 7 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Lê Thúy Dung.
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thúy Kiều – Thư ký Toà án, Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên họp: Ông Đoàn Đắc Bắc – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2021/TLST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2021 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 499/2021/QĐST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: ông Nguyễn H, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số 116, THT, khóm I, phường Y, thành phố CM, tỉnh CM. Chổ ở hiện nay: Số A9/24, đường Số 1, Khu dân cư NL, Lô 8C, Khu vực 2, phường HT, Quận CR, thành phố CT (Xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Lê T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số 116, THT, khóm I, phường Y, thành phố CM, tỉnh CM (Vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Ông Nguyễn H và bà Lê T chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện CN, tỉnh CM. Hôn nhân được xác lập trên tinh thần tự nguyện và được gia đình hai bên chấp thuận. Sau đó, ông và bà T chung sống tại gia đình ông ở số 116, THT, khóm I, phường Y, thành phố CM. Năm 2017 ông làm thủ tục xin chuyển hộ khẩu của bà T về cùng hộ khẩu với gia đình ông ở địa chỉ nêu trên. Quá trình chung sống ông bà có ba người con chung tên là Nguyễn Thị Minh Y, sinh ngày 04/3/2006; Nguyễn Thị Minh A, sinh ngày 22/02/2011 và Nguyễn Minh P, sinh ngày 22/5/2016. Trong thời gian chung sống tại số 116, THT, khóm I, phường Y, thành phố CM, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nên tháng 8/2018, bà T bỏ nhà đi đâu không rõ, ông H và gia đình không liên lạc và cũng không biết tin tức gì về bà T. Vì vậy, ông H yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm bà Lê T vắng mặt tại nơi cư trú. Đến ngày 09/8/2019, Toà án nhân dân thành phố Cà Mau ra quyết định giải quyết việc dân sự số: 29/2019/QĐST-DS về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Lê T. Thông báo tìm kiếm đã được nhắn tin tìm bà Lê T trên Trung tâm truyền hình Việt Nam vào các ngày 07, 08, 09 tháng 10 năm 2019. Mặc dù, ông H đã dùng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không liên lạc được, cũng không có bất kỳ thông tin nào về bà Lê T và không biết hiện tại bà Lê T đang ở đâu nên ông H yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê T mất tích.
Quá trình giải quyết vụ án ông H vẫn giữ yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê T mất tích và xác định giữa vợ chồng ông H không có tài sản gì, nên khi ra đi bà Lê T không để lại tài sản cho ông H quản lý. Ngoài ra ông không đặt ra yêu cầu gì khác.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự: Với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời trình bày của ông Nguyễn H trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại hồ sơ, có đủ căn cứ để xác định bà Lê T mất tích nên đề nghị Tòa án căn cứ vào các Điều 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn H về việc yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Lê T; Về lệ phí việc dân sự đương sự nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Toà án nhân dân thành phố Cà Mau nhận định:
Bà Lê T, sinh năm 1985, có nơi cư trú cuối cùng tại số 116, THT, khóm I, phường Y, thành phố CM, tỉnh CM chung sống với ông Nguyễn H vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại xã TP, huyện CN, tỉnh CM. Hôn nhân được xác lập trên tinh thần tự nguyện và được gia đình hai bên chấp thuận. Việc Lê T bỏ nhà ra đi đã được Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xác minh, làm rõ và đã ra Quyết định giải quyết việc dân sự số: 29/2019/QĐST-DS ngày 09/8/2019 về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với Lê T. Thông báo tìm kiếm đã được phát sóng trên Trung tâm truyền hình Việt Nam ba lần trong 03 ngày liên tiếp. Tuy nhiên, hết thời gian thông báo tìm kiếm, ông H vẫn không có tin tức xác thực về việc Lê T còn sống hoặc đã chết và ông H tiếp tục yêu cầu Tòa án tuyên bố Lê T, mất tích.
Trong thời gian giải quyết việc yêu cầu trên, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã ra Quyết định số: 03/2021/QĐ-TA ngày 26/01/2021 về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với Lê T, có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ nêu trên. Thông báo tìm kiếm Lê T, cũng được đăng trên báo Thanh Niên số 36, 37, 38 vào các ngày 5, 6, 7 tháng 02 năm 2021, thông báo nhắn tin tìm Lê T trên Trung tâm truyền hình Việt Nam Khu vực Nam Bộ vào các ngày 18, 19, 20 tháng 02 năm 2021 theo đúng quy định, thế nhưng đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày thông báo tìm kiếm lần đầu tiên cho đến nay, ông Hải vẫn không có tin tức gì về bà Lê T hiện đang ở đâu, còn sống hay đã chết.
Do đó, có đủ căn cứ xác định Lê T đã biệt tích từ năm 2018 đến nay, mặc dù ông Hải đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc Lê T còn sống hay đã chết nên yêu cầu của ông Nguyễn H về việc tuyên bố bà Lê T mất tích được chấp nhận.
Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm, ông Nguyễn H phải nộp theo quy định tại Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 27 và các Điều 149, 387, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn H.
Tuyên bố bà Lê T, sinh năm 1985 có nơi cư trú cuối cùng tại số 116, THT khóm I, phường Y, thành phố CM, tỉnh Cà Mau mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, ông Nguyễn H phải chịu số tiền là 300.000đồng. Ngày 13/01/2021, ông H đã nộp tiền tạm ứng lệ phí là 300.000đồng theo biên lai số 0000502 được đối trừ, chuyển thu nộp ngân sách nhà nước.
Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Quyết định này đương nhiên hết hiệu lực khi người bị tuyên bố mất tích trở về.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND cùng cấp; - UBND xã TP, huyện CN, tỉnh CM; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | (Đã ký) Lê Thúy Dung |