vanban.org

Quyết định 12/2021/QĐHG-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:

Anh Trần Bá M, sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT: Đường C, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng. Chị Trần Thị Thu Y, sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT: Đường C, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2021/QĐHG-HNGĐQuận Ngô Quyền, ngày 02 tháng 4 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thẩm phán ra quyết định: Lê Thị Hậu

Căn cứ vào các điều 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả đối thoại tại Tòa án ngày 17 tháng 3 năm 2021 về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, giữa:

- Người yêu cầu:

+ Anh Trần Bá M, sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT: Đường C, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng.

+ Chị Trần Thị Thu Y, sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT: Đường C, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng.

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án,

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:

- Anh Trần Bá M, sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT: Đường C, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng.

- Chị Trần Thị Thu Y, sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT: Đường C, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng.

2. Công nhận kết quả đối thoại thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhận: Anh Trần Bá M và chị Trần Thị Thu Y thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Anh Trần Bá M và chị Trần Thị Thu Y có hai con chung là Trần Phương L, sinh ngày 03/10/2007 và Trần Phương Trúc L, sinh ngày 26/7/2010. Anh Trần Bá M và chị Trần Thị Thu Y thỏa thuận giao hai con Trần Phương L và Trần Phương Trúc L cho chị Trần Thị Thu Y trực tiếp nuôi cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh Trần Bá M và chị Trần Thị Thu Y tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Anh Trần Bá M và chị Trần Thị Thu Y tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về chi phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án: Anh Trần Bá M và chị Trần Thị Thu Y không phải chịu chi phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hành chính và được thi hành theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

4. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.

5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ