- Tranh chấp gì? Y/c công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án — án dân sự — "NGUYỄN THỊ H - NGUYỄN THỊ THANH T, NGUYỄN VĂN K"
- Tòa quyết gì? Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn K có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thị H số tiền của hợp đồng dân sự (vay tài sản) là 30.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2020/QĐST-DS | Huyện D, ngày 05 tháng 3 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH NGOÀI TÒA ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Xuân Tạo.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngọc Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Trương Quốc Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương mở phiên họp xét công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thụ lý số 08/2020/TLST-DS ngày 14 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định mở phiên họp số 15/2020/QĐST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2020.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979. HKTT: Số 54, đường Nguyễn Văn N, khu phố 1, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1971 và ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1968; cùng địa chỉ: Số 54/1, đường Nguyễn Văn N, khu phố 1, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự (bà Nguyễn Thị H) trình bày:
Giữa bà H và vợ chồng ông NguyễnVăn K, bà Nguyễn Thị Thanh T có mối quan hệ quen biết. Do có nhu cầu cần vốn làm ăn nên vợ chồng ông K, bà T có hỏi vay tôi tiền. Vì tin tưởng vợ chồng ông K, bà T nên vào ngày 08/10/2018, bà H đã cho vợ chồng ông K, bà T vay số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Vợ chồng ông K và bà T vay số tiền trên trong thời hạn 11 tháng, hứa sẽ trả hết cho tôi vào ngày 08/9/2019. Hai bên có lập giấy vay tiền, vợ chồng ông K và bà T có lăn tay và ký tên xác nhận. Tuy nhiên, đến thời hạn thanh toán, vợ chồng ông K và bà T không thanh toán số tiền đã vay theo thỏa thuận ban đầu.
Bà H đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông K và bà T thanh toán số tiền đã nợ nH đến nay vợ chồng ông K và bà T vẫn không thanh toán cho bà H. Do đó, ngày 02/01/2020, bà H đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương để yêu cầu vợ chồng ông K và bà T phải thanh toán số tiền đã vay là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Tại Biên bản hòa giải thành ngày 05/02/2020 của Trung tâm Hòa giải - Đối thoại tại Tòa án nhân dân huyện D, vợ chồng ông K và bà T thừa nhận số tiền đã vay của bà H, đồng ý thanh toán số tiền còn nợ là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) theo giấy vay tiền đề ngày 08/10/2018.
Ngà 05/02/2020, bà H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện D công nhận sự thỏa thuận ngoài Tòa án, cụ thể như sau:
- Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn K có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thị H số tiền của hợp đồng dân sự (vay tài sản) là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) theo giấy vay tiền đề ngày 08/10/2018.
- Kể từ khi bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn K không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng, bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn K còn phải chịu khoản tiền lãi bằng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị ThanhT và ông Nguyễn Văn K trình bày:
Bà T và ông K thống nhất với toàn bộ nội dung trình bày của người yêu cầu bà Nguyễn Thị H và đồng ý trước yêu cầu về việc công nhận nội dung hòa giải thành ngày 05/02/2020 tại Trung tâm Hòa giải - Đối thoại tại Tòa án. Theo đó, bà T và ông K thừa nhận nợ và đồng ý thanh toán cho bà Nguyễn Thị H số tiền còn nợ là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) theo giấy vay tiền đề ngày 08/10/2018.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp hôm nay; người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật kể từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp.
- Về nội dung: Các bên đều thống nhất về thời gian vay, số tiền vay, thời hạn thanh toán. Xét thấy thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành ngày 05/02/2020 tại Trung tâm Hòa giải - Đối thoại tại Tòa án là tự nguyện. Nội dung thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Vì vậy đề nghị chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu, công nhận kết quả hòa giải thành của các bên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện D nhận định:
Về thẩm quyền: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án. Đây là việc dân sự theo quy định tại Điều 416 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà H có nơi cư trú tại khu phố 1, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương theo các quy định tại khoản 7 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm s khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ việc:
Ngày 02/01/2020, bà Nguyễn Thị H đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn K phải có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền còn nợ là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) theo giấy vay tiền đề ngày 08/10/2018.
Ngày 05/02/2020, sau khi được Trung tâm Hòa giải – Đối thoại tại Tòa án nhân dân huyện D hòa giải, bà H và bà T, ông K đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau thống nhất về việc giải quyết toàn bộ vụ việc. Việc thỏa thuận được ghi nhận bằng biên bản hòa giải thành ngày 05/02/2020.
Đồng thời bà H có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện D công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án. Nội dung cụ thể như sau:
- Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn K có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thị H số tiền của hợp đồng dân sự (vay tài sản) là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) theo giấy vay tiền đề ngày 08/10/2018.
- Kể từ khi bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị ThanhT và ông Nguyễn Văn K không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng, bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn K còn phải chịu khoản tiền lãi bằng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Lệ phí: Bà Nguyễn Thị H chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hòa giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ việc là tự nguyện, nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
3 kiến của đại diện Viện kiểm sát về phần thủ tục tố tụng cũng như về nội dung vụ việc là phù hợp quy định pháp luật.
Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 7 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 366, 367, 369, 370, 416, 417 và 419 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thụ lý số 08/2020/TLST-DS ngày 14 tháng 02 năm 2020, cụ thể như sau:
- Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn K có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thị H số tiền của hợp đồng dân sự (vay tài sản) là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) theo giấy vay tiền đề ngày 08/10/2018.
- Kể từ khi bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị ThanhT và ông Nguyễn Văn K không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng, bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn K còn phải chịu khoản tiền lãi bằng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Điều 2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về dân sự:
Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số: AA/2016/0032409 ngày 05/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Bình Dương.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Điều 4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện D; - Chi cục THADS huyện D; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Xuân Tạo |