vanban.org

Quyết định 12/2019/QĐ-TA

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 14/03/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Hữu T.

Thời gian chấp hành cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Long An; Địa chỉ trụ sở: Ấp 2, xã Thủy Tây, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày bị bắt đưa vào cơ sở cai nghiện. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện có quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Hữu T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Hữu T.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Số: 12/2019/QĐ –TA
Đức Hòa, ngày 14 tháng 3 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Đỗ Bình An.

2. Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Như Ý.

Ngày 14 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 12/2019/QĐ-TA ngày 06 tháng 3 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Trần Hữu T, sinh năm 1994, giới tính: Nam.

CMND: 301796467; Ngày cấp 04/8/2017; Nơi cấp: Công an tỉnh Long An.

Nghề nghiệp: Không có

Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 4/12; Nguyên quán: huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh L.

Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh L.

Con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị X

Tiền án: Không có.

Tiền sự:

- Tại Quyết định số: 12/QĐ-XPVPHC ngày 24/5/2017 của Công an xã T phạt Trần Hữu T số tiền 750.000 đồng do sử dụng trái phép chất ma túy.

- Tại Quyết định số: 85/QĐ-UBND ngày 15/8/2018 của UBND xã T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã là 03 tháng, kể từ ngày 15/8/2018 đến ngày 15/11/2018 (Đã chấp hành xong).

Trần Hữu T vắng mặt tại phiên họp – Đã được triệu tập hợp lệ.

Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Đức Hòa, tỉnh Long An: Ông Lê Văn Chơi – chuyên viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An: Ông Nguyễn Văn Còn - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 12/02/2019, Trần Hữu T sử dụng trái phép chất ma túy nên bị Công an xã T, huyện Đ, tỉnh L mời làm việc tại trụ sở. Công an phối hợp cùng Trạm y tế xã T tổ chức xét nghiệm nhanh nước tiểu của Trần Hữu T kết quả dương tính chất ma túy. Trong quá trình làm việc, Trần Hữu T khai đã nhiều lần sử dụng chất ma túy từ năm 2017 cho đến nay. Trên cơ sở đó, Công an xã T tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Hữu T.

Tại Quyết định số: 09/QĐ-UBND ngày 13/02/2019 của Ủy ban nhân dân xã T giao cho gia đình (ông Trần Văn H – cha ruột của Trần Hữu T) quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Hữu T.

- Ý kiến cơ quan đề nghị: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Hữu T, thời gian cai nghiện từ 12 - 24 tháng.

- Ý kiến của người bị đề nghị: Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp nhưng hồ sơ thể hiện người bị đề nghị thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy.

- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An:

Về trình tự, thủ tục: Quá trình thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, đại diện cơ quan đề nghị đã thực hiện theo đúng quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của U ban Thường vụ Quốc hội.

Về nội dung: Tại phiên họp Trần Hữu T vắng mặt nhưng hồ sơ thể hiện người bị đề nghị thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy nên Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đức Hòa.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến tranh luận của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị.

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền xem xét, quyết định: Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Đức Hòa, tỉnh Long An lập đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Hữu T, chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh L. Do đó căn cứ Khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của U ban Thường vụ Quốc hội, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý xem xét là đúng thẩm quyền.

Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính số 03/BB-VPHC của Công an xã T đối với Trần Hữu T lập ngày 12/02/2019 do Trần Hữu T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và Công văn số 87/LĐTBXH ngày 01/03/2019 về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động – thương binh và xã hội huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Do đó ngày 04/3/2019, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ.

Trần Hữu T vắng mặt tại phiên họp vắng mặt không có lý do chính đáng, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

Về nội dung xem xét: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Hữu T phù hợp với lời khai của Trần Hữu T có trong hồ sơ đề nghị, phù hợp với Biên bản xét nghiệm chất ma túy (Đối với người nghiện chất ma túy) của Trạm y tế xã T và Công văn đề nghị của cơ quan đề nghị. Hành vi của Trần Hữu T đã vi phạm khoản 3 Điều 3 Luật phòng chống ma túy năm 2000; Vi phạm qui định tại khoản 1 và khoản 16 Điều 2, khoản 1 Điều 96 và Điểm b Khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Việc làm trên của Trần Hữu T đã vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương là nguyên nhân, mầm móng của nhiều tội phạm khác. Bản thân Trần Hữu T là người đã thành niên, đang trong độ tuổi lao động biết tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng và sử dụng nhiều lần. Do vậy cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Hữu T trong một thời gian hợp lý để Trần Hữu T chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng ma túy, cũng là răn đe đối tượng không tiếp tục vi phạm và sớm tái hòa nhập với cộng đồng.

Tuy nhiên, cần xem xét những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân như sau: Về tình tiết tăng nặng: Không có. Quá trình làm việc Trần Hữu T đã tình nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, tình tiết trên được qui định tại Khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên xem xét giảm nhẹ một phần thời gian chấp hành cai nghiện cho Trần Hữu T.

Từ những phân tích trên đối với ý kiến của đại diện phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đức Hòa về việc đưa Trần Hữu T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 12 – 24 tháng là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Hữu T.

2. Thời gian chấp hành cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Long An; Địa chỉ trụ sở: Ấp 2, xã Thủy Tây, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày bị bắt đưa vào cơ sở cai nghiện.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận Quyết định; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Đức Hòa; Công an huyện Đức Hòa và Cơ sở cai nghiện ma túy Long An có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ