vanban.org

Quyết định 12/2019/QĐ-TA

TAND huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 06/08/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Văn D.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Kạn (Địa chỉ: phường X, thành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Văn D.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Nghị định số 111/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2019/QĐ-TAB, ngày 06 tháng 8 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hoàng Anh Tuấn.

2. Thư ký phiên họp: Bà Cao Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B.

Ngày 06 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 16/2019/QĐ-TA ngày 30 tháng 7 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Bàn Văn D - Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 21 tháng 10 năm 1985.

Chứng minh nhân dân số: 095080xxx. Cấp ngày: 20/7/2003. Nơi cấp: Công an tỉnh Bắc Kạn.

Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12.

Nguyên quán: xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông: Bàn Văn Th và bà: Triệu Thị E.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hoàng Xuân Thế - Phó Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B. Theo Giấy ủy quyền số 388/UQ-LĐTBXH ngày 06/8/2019 của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B.

2. Đại diện Viện kiểm sát: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện B.

3. Những người khác: Không.

NHẬN THẤY:

Ngày 26/4/2019, UBND xã C ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng đối với Bàn Văn D. Ngày 09/7/2019, công an xã C phối hợp với trạm y tế xã C xét nghiệm ma túy đối với Bàn Văn D, kết quả dương tính với chất ma tuý (heroine).

Ngày 09/7/2019, UBND xã C đã ra Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Bàn Văn D.

Tại bản tường trình ngày 09/7/2019, Bàn Văn D khai nhận bản thân thường sử dụng trái phép chất ma tuý dưới hình thức chích và hít. Bàn Văn D sử dụng ma túy từ năm 2013 cho đến nay và lần sử dụng ma túy gần đây nhất là ngày 06/7/2019.

Chính vì vậy, UBND xã C đã lập hồ sơ và đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Văn D. Phòng Tư pháp huyện B đã kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ và kết luận: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Văn D chưa đầy đủ, một số nội dung của hồ sơ chưa đảm bảo tính pháp lý theo quy định của pháp luật hiện hành.

Do đó, ngày 17/7/2019, Phòng lao động Thương binh và xã hội huyện B có công văn số 351/ĐN-LĐTBXH đề nghị UBND xã C bổ sung giấy tờ, tài liệu hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Văn D.

Sau đó, ngày 29/7/2019, Phòng lao động Thương binh và xã hội huyện B có công văn số 373/LĐTBXH-TNXH đề nghị Toà án nhân dân huyện B xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện tỉnh Bắc Kạn và đã chuyển toàn bộ hồ sơ của người bị đề nghị Bàn Văn D tới Tòa án nhân dân huyện B.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị có ý kiến: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Văn D với thời hạn là từ 16 tháng đến 18 tháng.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu quan điểm đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong việc xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự quy định của pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bàn Văn D không chấp hành quyết định mở phiên họp và giấy triệu tập của Tòa án, đồng thời nêu quan điểm đã có đủ thủ tục và căn cứ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Văn D và đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Văn D với thời hạn từ 16 tháng đến 18 tháng.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Văn D, xét thấy hồ sơ được lập đầy đủ, đúng thẩm quyền, đúng trình tự của Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013; Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Bàn Văn D đã được công an xã C phát hiện và Bàn Văn D cũng đã khai nhận toàn bộ việc nghiện ma túy (heroine) của mình. Cơ quan chuyên môn đã tiến hành xét nghiệm đối với người nghiện ma túy và kết quả xét nghiệm đã xác định Bàn Văn D dương tính với ma túy. Do vậy, cần phải đưa Bàn Văn D đi cai nghiện bắt buộc, nếu để ngoài xã hội thì rất nguy hiểm cho cộng đồng dân cư, làm phát sinh các tệ nạn xã hội.

Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Bàn Văn D thấy rằng: Bản thân Bàn Văn D có nhân thân xấu, nhiều lần sử dụng trái phép chất ma tuý. Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc Bàn Văn D đã “tự nguyện khai báo”, phối hợp với các cơ quan tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, Bàn Văn D được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Trong thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, Bàn Văn D tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vì vậy, Bàn Văn D phải chịu tình tiết tăng nặng tại điểm h khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính “Vi phạm trong thời gian đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính”.

Xét về tính chất, mức độ hành vi vi phạm của Bàn Văn D đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng đến sự quản lý chất biệt dược của Nhà nước. Xét thấy đề nghị của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện B và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B là có căn cứ nên được chấp nhận. Do vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Văn D với thời gian cai nghiện bắt buộc nhất định.

Căn cứ vào các tài liệu đã được kiểm tra tại phiên họp. Căn cứ vào ý kiến của cơ quan đề nghị trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 9; điểm h khoản 1 Điều 10; Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Căn cứ Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ; Căn cứ Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ; Căn cứ vào các Điều 3, 22, 23, 29, 30 và Điều 31 Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 13.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Văn D.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Kạn (Địa chỉ: phường X, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn).

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết hợp lệ. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện B có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành Quyết định: Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện B kết hợp với Công an huyện B thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ