vanban.org

Quyết định 12/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Tiên Lãng, TP. Hải Phòng Tuyên án 12/09/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị T: Tuyên bố anh Phạm Văn T, sinh năm 1988; nơi cư trú cuối cùng: Thôn B, xã T, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng là người mất tích.

Về lệ phí: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, lệ phí dân sự sơ thẩm. Chị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí, theo Biên lai thu số: 0011153 ngày 29 tháng 3 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng. Chị T đã nộp đủ tiền lệ phí dân sự sơ thẩm. Người yêu cầu có q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích T_T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị T: Tuyên bố anh Phạm Văn T, sinh năm 1988; nơi cư trú cuối cùng: Thôn B, xã T, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng là người mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN LÃNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2018/QĐDS-ST
Ngày 12-9-2018
V/v “Tuyên bố một người mất tích”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Đức Chi - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Kim Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Nguyện - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2018/TLST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2018 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 09/2017/QĐPH-ST ngày 14 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự số 02/2018/QĐHPH-ST ngày 23/8/2018.

1. Người yêu cầu: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, có mặt;

2. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1988. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn B, xã T, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Chị Bùi Thị T và anh Phạm Văn T kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng từ ngày 15/3/2010. Đến ngày 15/8/2015, anh T bỏ nhà đi, không để lại tin tức, địa chỉ. Chị T và gia đình anh T đã nhiều lần tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì về anh T. Để đảm bảo quyền lợi của mình, chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T là người mất tích theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu tuyên bố anh Phạm Văn T là người mất tích.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Qua nghiên cứu hồ sơ việc dân sự và tham gia phiên họp, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án: Căn khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39; các điều 149, 370, 371, 372, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Bùi Thị T, tuyên bố anh Phạm Văn T là người mất tích; chị T phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng nhận định:

- Về tố tụng: Chị Bùi Thị T có đơn yêu cầu tuyên bố anh Phạm Văn T là người mất tích, anh T có nơi cư trú cuối cùng tại: Thôn B, xã T, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

- Về nội dung: Anh Phạm Văn T biệt tích từ ngày 15/8/2015 đến nay đã được hơn 03 năm. Mặc dù, chị Bùi Thị T và gia đình anh T đã tìm kiếm nhiều lần nhưng không có tin tức gì về anh T; Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm theo quy định tại Điều 388 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuy nhiên vẫn không có tin tức xác thực về việc anh T còn sống hay đã chết. Vì vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị T: Tuyên bố anh Phạm Văn T là người mất tích.

Về lệ phí: Căn cứ khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, các điều 370, 371, 372, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 6 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị T: Tuyên bố anh Phạm Văn T, sinh năm 1988; nơi cư trú cuối cùng: Thôn B, xã T, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng là người mất tích.

2. Về lệ phí: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, lệ phí dân sự sơ thẩm. Chị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí, theo Biên lai thu số: 0011153 ngày 29 tháng 3 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng. Chị T đã nộp đủ tiền lệ phí dân sự sơ thẩm.

3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ