- Tranh chấp gì? Các yêu cầu trong trường hợp chưa có điều kiện áp dụng — án hôn nhân và gia đình — "Le Van Luc - Ho Thi Luu"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 27, Điều 369, Điều 370, Điều 387, Điều 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| QĐ số: 12/2017/QĐDS-ST. Ngày: 23/10/2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, QUẢNG BÌNH
Với!thành!phần!giải!quyết!việc!dân!sự:
Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Thị Loan - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên họp: Nguyễn Hoàng Quỳnh Chi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 10 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 06/2017/TLST - VDS ngày 05 tháng 6 năm 2017 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 19/2017/QĐPH - ST ngày 16 tháng 10 năm 2017.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Lê Văn L, sinh năm: 1987.
Trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hồ Thị L, sinh năm: 1990.
Quê quán: Xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố chị Hồ Thị L mất tích.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Bình nhận định:
Anh Lê Văn L và chị Hồ Thị L kết hôn với nhau vào ngày 10/10/2012 Ủy ban nhân dân (UBND) xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn chị L về chung sống với gia đình anh L tại thôn L, xã Đ, huyện B được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn và ngày 10/10/2013 chị L bỏ nhà đi không nói với anh L và gia đình nội ngoại một lời nào. Kể từ khi chị L bỏ nhà đi cho đến nay không liên lạc gì với anh L cũng như gia đình nội ngoại.
Anh L và gia đình đã tìm kiếm chị L nhiều nơi, nhắn tin trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có kết quả. Tại bản xác nhận tại Ủy ban nhân dân xã Đ và ông Hồ Đức D (là bố đẻ chị L) thì chị L bỏ đi khỏi địa phương từ ngày 10/10/2013 cho đến nay không có mặt tại xã Đ. Hiện nay chị L ở đâu địa phương và gia đình chị L không rỏ, khi đi không khai báo cắt tạm trú tạm vắng tại địa phương.
Vì vậy, anh L có đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện B tuyên bố chị Hồ Thị L mất tích. Tòa án nhân dân huyện B đã thụ lý vụ việc và tiến hành trực tiếp về tại nhà ông Lê Văn H (bố anh L) và ông Hồ Đức D để xác minh, ông H và ông D cho biết chị L đã đi khỏi địa phương từ ngày 10/10/2013 cho đến nay không liên lạc gì với gia đình, hiện tại gia đình không biết chị L làm gì, ở đâu. Ngày 08/6/2017, Tòa án đã ra Quyết định thông báo số: 06/2017/QĐ - TB tìm kiếm chị Hồ Thị L. Anh Lê Văn L đã làm các thủ tục đăng tin trên Báo Công lý ba số 47, 48, 49 vào các ngày 14, 19, 21 tháng 6 năm 2017 và nhắn tin qua Đài Tiếng nói Việt Nam vào lúc 11 giờ 50 phút các ngày 11, 12, 13 tháng 8 năm 2017. Kể từ ngày đăng báo và nhắn tin cho đến nay chị Hồ Thị L không về và cũng không liên lạc với anh L nên hiện tại chị L đang sinh sống ở đâu, làm gì anh L không biết.
Tại phiên họp hôm nay, anh L vẫn giữ nguyên yêu cầu Toà án tuyên bố chị Hồ Thị L mất tích.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Lê Hồ Tiến L, sinh ngày: 20/12/2012. Kể từ ngày chị L bỏ nhà đi cho đến nay cháu L sống cùng anh L nên anh L có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng cháu.
Về tài sản và công nợ: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu quan điểm giải quyết tại phiên họp xét đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Hồ Thị L theo yêu cầu của anh Lê Văn L là hoàn toàn có căn cứ. Vì vậy, cần chấp nhận và áp dụng khoản 3 Điều 27, Điều 369, Điều 370, Điều 387, Điều 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận đơn yêu cầu anh Lê Văn L tuyên bố chị Hồ Thị L mất tích.
Xét thấy: Việc yêu cầu tuyên bố chị Hồ Thị L mất tích của anh Lê Văn L là có cơ sở để chấp nhận vì thời gian anh L làm các thủ tục nhắn tin, đăng báo để tìm kiếm chị L cho đến nay đã hơn 04 tháng nhưng vẫn không có tin tức gì của chị L. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 27, Điều 369, Điều 370, Điều 387, Điều 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 tuyên bố chị Hồ Thị L mất tích.
Về lệ phí giải quyết việc Dân sự: Áp dụng Điều 149 BLTTDS 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Anh Lê Văn L đã nộp tạm ứng lệ phí sơ thẩm 300.000 đồng theo biên lai số 0002044 ngày 05/6/2017 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B, nay phải chịu theo quy định của Pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 27, Điều 369, Điều 370, Điều 387, Điều 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố chị Hồ Thị L của anh Lê Văn L. Quyết định tuyên bố chị Hồ Thị L, sinh năm: 1990, địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình mất tích kể từ ngày 23/10/2017.
Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Áp dụng Điều 149 BLTTDS 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Anh Lê Văn L phải nộp 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng lệ phí sơ thẩm 300.000 đồng theo biên lai số 0002044 ngày 05/6/2017 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B, tỉnh Quảng Bình.
Anh Lê Văn L có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày 23/10/2017. Nơi!nhận:
| - TA Quảng Bình. - VKS huyện B. - THADS huyện B. - ĐS, UBND xã Đ. - Lưu HS, lưu TA. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Loan |