- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 119/2021/QĐST-HNGĐ | Thủ Dầu Một, ngày 18 tháng 5 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG.
Căn cứ vào các điều 149, 212, 213 và Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 51, 54, 55, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 101/2021/TLST-HNGĐ ngày 06/5/2021 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu:
- Ông Nguyễn Công N, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số XY, khu phố Z, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bà Phạm Thị Ng, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số XY, khu phố Z, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Tại biên bản hòa giải đoàn tụ không thành ngày 10/5/2021, ông Nguyễn Công N và bà Phạm Thị Ng đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên ông Nguyễn Công N và bà Phạm Thị Ng yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Xét thấy, việc ông Nguyễn Công N và bà Phạm Thị Ng thật sự tự nguyện ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Tòa án công nhận.
Về con chung: Ông Nguyễn Công N và bà Phạm Thị Ng thống nhất sau khi ly hôn ông Nguyễn Công N sẽ có trách nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng con chung cháu Nguyễn Công Minh T, sinh ngày 24/5/2010; Bà Phạm Thị Ng sẽ có trách nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng con chung cháu Nguyễn Công Đăng K, sinh ngày 22/12/2015. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự về con chung là tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa án công nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Nguyễn Công N và bà Phạm Thị Ng tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về lệ phí Tòa án: Người yêu cầu phải chịu theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Công N và bà Phạm Thị Ng.
- Về con chung: Ông Nguyễn Công N và bà Phạm Thị Ng thống nhất sau khi ly hôn ông Nguyễn Công N sẽ có trách nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng con chung cháu Nguyễn Công Minh T, sinh ngày 24/5/2010; Bà Phạm Thị Ng sẽ có trách nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng con chung cháu Nguyễn Công Đăng K, sinh ngày 22/12/2015.
Ông Nguyễn Công N và bà Phạm Thị Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở. Trường hợp ông N, bà Ng lạm dụng quyền thăm nom con để gây khó khăn, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của nhau thì ông Nguyễn Công N và bà Phạm Thị Ng có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với ông N, bà Ng.
Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, khi một trong các đương sự hoặc cả hai đương sự có yêu cầu thay đổi người nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con khi xét thấy cần thiết.
- Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Nguyễn Công N và bà Phạm Thị Ng tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Công N và bà Phạm Thị Ng mỗi người nộp 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp trước đây theo Biên lai thu tiền số AA/2016/0051388 ngày 26/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
2. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./. Nơi nhận:
THẨM PHÁN
- TAND tỉnh Bình Dương;
- VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
- Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một;
- UBND phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương;
- Người yêu cầu;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.
Trần Thị Thanh Tâm