vanban.org

Quyết định 119/2018/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Quỳnh A và anh Trịnh Văn H.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: * Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Quỳnh A và anh Trịnh Văn H thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Quỳnh A - Trịnh Văn H"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Quỳnh A và anh Trịnh Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Số: 119/2018/QĐST-HNGĐ
Điện Biên Phủ , ngày 16 tháng 11 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 228/2018/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2018, giữa:

- Chị Nguyễn Thị Quỳnh A - Sinh năm: 1987;

Địa chỉ: Số nhà 537, tổ dân phố 11, phường T, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

- Anh Trịnh Văn H - Sinh năm: 1987;

Địa chỉ: Tổ dân phố 03, phường H, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

Nơi công tác: Công ty xăng dầu tỉnh Điện Biên.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83, 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 08 tháng 11 năm 2018;

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 08 tháng 11 năm 2018 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Quỳnh A và anh Trịnh Văn H.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

* Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Quỳnh A và anh Trịnh Văn H thuận tình ly hôn.

* Về con chung: Giao 02 con chung sinh đôi là cháu Trịnh Anh Q - sinh ngày 21/3/2016 và cháu Trịnh Anh S- sinh ngày 21/3/2016, cho chị Quỳnh A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cháu Anh S là 2.000.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 01/12/2018; Phương thức cấp dưỡng theo tháng.

Anh Trịnh Văn H có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.

Chị Nguyễn Thị Quỳnh A cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Hoàn thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản và công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Về án phí:

- Chị Nguyễn Thị Quỳnh A tự nguyện chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2016/0002060 ngày 09/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, trả lại cho chị Quỳnh A 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

- Anh Trịnh Văn H phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án này được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì chị Nguyễn Thị Quỳnh A và anh Trịnh Văn H có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ