vanban.org

Quyết định 117/2022/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Bùi Thị K và ông Bùi Văn T.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị K và ông Bùi Văn T thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị K - Bùi Văn T"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Bùi Thị K và ông Bùi Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 117/2022/QĐST-HNGĐLạc Sơn, ngày 18 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 43/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022, giữa:

+ Nguyên đơn: Bà Bùi Thị K, sinh năm 1982. Nơi ĐKHKTT: Phố C, thị trấn V, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú hiện tại: xóm B, xã H, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

+ Bị đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1978; Nơi ĐKHK và thường trú: Phố C, thị trấn V, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55; 81; 82; 83; 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 10 tháng 11 năm 2022.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 10 tháng 11 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Bùi Thị K và ông Bùi Văn T.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị K và ông Bùi Văn T thuận tình ly hôn.

2.2. Về con chung: Bà Bùi Thị K tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Bùi Thị Thu T, sinh ngày 31/7/2011 cho đến khi cháu Bùi Thị Thu T đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

Bà Bùi Thị K và ông Bùi Văn T chưa yêu cầu Tòa án giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn pháp luật vẫn bảo hộ các quyền của cha, mẹ với con chưa thành niên (quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở; quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con; quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con). Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

2.3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

2.4. Về công nợ chung: Không có;

2.5. Về án phí: Bà Bùi Thị K tự nguyện nộp toàn bộ 150.000 đ (Một trăm năm mươi nghìnđồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ với 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Bùi Thị K đã nộp thể hiện tại biên lai thu tiền số 0004253 ngày 03 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn. Nay bà Bùi Thị K được nhận lại số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ