- Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Đình C và bà Hà Thị N về việc yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 117/2020/QĐST-DS | Quận 11, ngày 16 tháng 9 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Mỹ Duyên.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Quốc Thiên Hương – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 486/2019/ TLST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2019 về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 13/2020/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: Ông Trần Đình C, sinh năm 1963 và bà Hà Thị N, sinh năm 1965; cùng địa chỉ: xã H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của bà Hà Thị N: Ông Trần Đình C, sinh năm 1963 là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 5233, quyển số 03-SCT/CK ngày 07/9/2020 tại Văn phòng công chứng Hố Nai, tỉnh Đồng Nai)
Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1974; nơi cư trú cuối cùng: cư xá B, Phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người yêu cầu có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Ông Trần Đình C là người yêu cầu trình bày:
Ngày 13/7/2010 ông Trần Đình C và vợ là bà Hà Thị N có ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng số 1440, quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/7/2010 tại Văn phòng công chứng Hoàng Long, tỉnh Đồng Nai với bà Nguyễn Thanh T. Đây thực chất là giao dịch vay tài sản, bà T hứa trong vòng 01 tháng bà T sẽ giúp vợ chồng ông C, bà N vay tiền Ngân hàng để trả nợ cho bà T và bà T sẽ hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký công chứng với ông C, bà N. Tuy nhiên, bà T đã không thực hiện những gì đã hứa mà còn tự ý sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua tên bà T. Sau khi biết sự việc trên, vợ chồng ông C, bà N đã nhiều lần liên hệ với bà T nhưng bà T đã đi khỏi nơi cư trú, không rõ địa chỉ cư trú hiện nay của bà T. Do đó, vợ chồng ông C, bà N yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 11 thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1974; địa chỉ: cư xá B, Phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh để bổ túc hồ sơ khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Ông Trần Đình C và bà Hà Thị N yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1974; địa chỉ: cư xá B, Phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là yêu cầu việc dân sự, bà T có địa chỉ cư trú tại Quận 11 nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 4 Điều 27; Điểm a Khoản 2 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Do người yêu cầu có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt người yêu cầu theo đúng quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về các yêu cầu của các đương sự:
Xét yêu cầu của ông Trần Đình C, bà Hà Thị N: Căn cứ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký công chứng số 1440, quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/7/2010 tại Văn phòng công chứng Hoàng Long, tỉnh Đồng Nai có cơ sở xác định giữa ông Trần Đình C, bà Hà Thị N và bà Nguyễn Thanh T có giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do bà T không thực hiện đúng thỏa thuận hai bên đã thống nhất nên ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông C, bà N. Ông Trần Đình C và bà Hà Thị N được xác định là người có quyền, lợi ích liên quan nên có quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự trên. Đồng thời, tại văn bản công chứng bà T có xác định địa chỉ cư ngụ tại cư xá B, Phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng bà T đã vắng mặt tại nơi cư trú, do đó, ông C và bà N có quyền yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thanh T theo quy định tại khoản 1 Điều 381 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ pháp lý để giải quyết yêu cầu:
Theo kết quả xác minh của Công an Phường 8, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh như sau: “Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1974 có hộ khẩu thường trú tại cư xá B, Phường T, Quận M, hiện không còn cư trú tại địa phương từ 2017 và chuyển đi đâu không rõ địa chỉ cư ngụ. Cha bà T là ông Nguyễn Thành L và mẹ là bà Nguyễn Thị A trú tại Tổ 10, Khóm 1, thị trấn Chi Lăng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang”.
Theo kết quả ủy thác điều tra tại Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang: “Bà Nguyễn Thanh T và cha là ông Nguyễn Thành L, mẹ là bà Nguyễn Thị A có sinh sống tại Tổ 10, Khóm 1, thị trấn Chi Lăng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang nhưng từ năm 2013 cả bà T và cha mẹ bà T đã chuyển đi nơi khác không rõ địa chỉ”.
Căn cứ Điều 64 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi một người biệt tích 06 tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự….”
Tại phiên họp, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 về việc giải quyết yêu cầu của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ việc và tại phiên họp, Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của pháp luật, tuy nhiên thẩm phán vi phạm thời hạn chuẩn bị mở phiên họp và chưa đảm bảo thời hạn tống đạt thông báo thụ lý cho các đương sự và Viện kiểm sát; người yêu cầu thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đối với nội dung vụ việc: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Trần Đình C và bà Hà Thị N về việc yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thanh T; địa chỉ cư trú cuối cùng: cư xá B, Phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ những căn cứ trên, xét thấy ông Trần Đình C và bà Hà Thị N yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thanh T là có cơ sở, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, đúng quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận yêu cầu.
Về lệ phí: Ông Trần Đình C và bà Hà Thị N phải chịu 300.000 đồng lê ̣ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng lệ phí do đương sự đã nộp được cấn trừ vào số tiền lệ phí mà đương sự phải chịu.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 371, 372, 381, 383, 384, 385, 386 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 64 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Đình C và bà Hà Thị N về việc yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với:
Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1974; nơi cư trú cuối cùng: cư xá B, Phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Kèm theo Quyết định việc dân sự này là “Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” số …/2020/QĐ-DS ngày 16/9/2020 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyết định này đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp bà Nguyễn Thanh T trở về.
4. Lê ̣ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), ông Trần Đình C và bà Hà Thị N phải chịu, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông C, bà N đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0015223 ngày 10/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quâ ̣n 11; đương sự đã nô ̣p đủ lê ̣ phí.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 11; - Chi cục THADS Quận 11; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Mỹ Duyên |