vanban.org

Quyết định 116/QĐ-CSCNBB-TA

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/09/2017 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Phạm Minh N.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở cai nghiện ma túy số 1. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày 20/8/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐXLHC Phạm Minh N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Phạm Minh N.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 82/2013/NĐ-CP Ban hành các Danh mục chất ma túy…; Điều 12 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính và những nội dung nhân định
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 116/QĐ-CSCNBB-TAQuận 10, ngày 29 tháng 9 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Triệu Luật.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hiếu.

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại Cơ sở xã hội Nhị Xuân, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 108/QĐ-TA ngày 25/9/2017 về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Họ và tên: Phạm Minh N- Giới tính: Nam

Sinh ngày: 10/6/1995.

CMND số: / Ngày cấp:/ Nơi cấp:/

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: /.

Trình độ văn hoá: 09/12.

Nguyên quán: Ninh Bình.

Hộ khẩu thường trú: Đường T, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội.

Chỗ ở: không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: không.

Tiền án: không.

Tiền sự: không.

Con ông: Phạm Ngọc Q. và bà: Vũ Thị Bích L.

(Có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị (Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh):

Ông Thái Quốc Trung.

Chức vụ: Chuyên viên.

(Theo giấy ủy quyền số: 119.1/LĐTBX ngày 20/9/2017 của Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh:

Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Lúc 04 giờ 00 phút ngày ngày 20/8/2017, tại trước nhà số 45/6/6 đường 3/2, Phường 11, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an Phường 11, Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính và phát hiện ông Phạm Minh N có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, nên tạm giữ, làm rõ, qua xét nghiệm nhanh nước tiểu của ông Phạm Minh N thì dương tính với chất tổng hợp; ngày 20/8/2017, Công an Phường 11, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng chất ma túy đối với ông Phạm Minh N.

Theo ông Phạm Minh N trình bày: bản thân có sử dụng ma túy vào ngày 18/8/2017, sau đó bị lực lượng Công an kiểm tra, tạm giữ như đã nêu trên; ngoài ra ông Phạm Minh N còn trình bày: bản thân bắt đầu sử dụng ma túy khoảng 10 ngày trước; về tình trạng cư trú: ông khai hiện có hộ khẩu thường trú tại Đường T, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội, nhưng hiện đang cư trú tại địa chỉ số Đường B, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không đăng ký tạm trú.

Công an Phường 11, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xác minh về tình trạng cư trú của ông Phạm Minh N tại địa chỉ Đường T, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội như sau: xác định ông Phạm Minh N có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ Đường T, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội nhưng không thường xuyên sinh sống tại địa chỉ trên, từ năm 2014 đến nay vào Thành phố Hồ Chí Minh. Công an Phường 11, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xác minh về tình trạng cư trú của ông Phạm Minh N tại địa chỉ Đường B, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh như sau: xác định ông Phạm Minh N không có cư ngụ ổn định tại địa chỉ trên.

Ngày 20/8/2017, Ủy ban nhân dân Phường 11, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đưa người nghiện ma túy vào trung tâm tiếp nhận đối tượng xã hội Nhị Xuân để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Minh N.

Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy ngày 24/8/2017 của Bác sỹ Trần Hữu Nghĩa (đang công tác tại Phòng Y tế - Cơ sở xã hội Nhị Xuân), xác định: ông Phạm Minh N nghiện chất dạng Amphetamine.

Ngày 05/9/2017, Công an Phường 11, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh ra Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Minh N.

Ngày 18/9/2017, Công an Phường 11, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh có công văn chuyển Phòng Tư pháp Quận 10 đề nghị thẩm định hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Minh N; sau khi kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, ngày 18/9/2017, Phòng Tư pháp Quận 10 chuyển hồ sơ đến Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh để xem xét, quyết định đề nghị Tòa án nhân dân Quận 10 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Minh N.

Tại văn bản đề nghị số 119/LĐTBXH ngày 20/9/2017, Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị Tòa án nhân dân Quận 10 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Minh N.

Tại phiên họp hôm nay, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10 đề nghị Tòa án nhân dân Quận 10 áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Cơ sở cai nghiện ma túy số 1) đối với ông Phạm Minh N với thời hạn 15 tháng đến 18 tháng; người bị đề nghị ông Phạm Minh N đã thừa nhận hành vi phạm pháp trên và đồng ý với nội dung đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị. Ngoài ra, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Minh N.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, người bị đề nghị.

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền: qua xem xét hồ sơ, do cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Minh N là Phòng Lao động thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; do vậy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.

Về thời hiệu áp dụng: căn cứ biên bản vi phạm hành chính ngày 20/8/2017 do Công an Phường 11, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh lập thì xác định ngày 20/8/2017 là ngày ông Phạm Minh N được tiến hành kiểm tra nước tiểu và có kết quả dương tính với chất tổng hợp; ngày 20/9/2017, Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị Tòa án nhân dân Quận 10 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Minh N. Như vậy căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu xử lý vi phạm hành chính này vẫn còn trong thời hạn 03 tháng.

Về quốc tịch và độ tuổi: qua các tài liệu thu thập được, có cơ sở xác định ông Phạm Minh N là công dân Việt Nam, sinh năm 1995, tức trên 18 tuổi.

Về tình trạng cư trú của ông Phạm Minh N: Công an Phường 11, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xác minh về tình trạng cư trú của ông Phạm Minh N tại địa chỉ Đường T, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội như sau: xác định ông Phạm Minh N có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ Đường T, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội nhưng không thường xuyên sinh sống tại địa chỉ trên, từ năm 2014 đến nay vào Thành phố Hồ Chí Minh. Công an Phường 11, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xác minh về tình trạng cư trú của ông Phạm Minh N tại địa chỉ Đường B, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh như sau: xác định ông Phạm Minh N không có cư ngụ ổn định tại địa chỉ trên; đồng thời tại phiên họp, Phạm Minh N cũng đã xác định bản thân là người không có nơi cư trú ổn định. Do vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 2, điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thì có cơ sở xác định ông Phạm Minh N thuộc trường hợp không có nơi cư trú ổn định.

Về tình trạng nghiện ma túy: căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính ngày 20/8/2017 do Công an Phường 11, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh lập về việc ông Phạm Minh N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, phù hợp với biên bản xác minh vụ việc vi phạm hành chính (tất cả đều có xác nhận của Phạm Minh N và có người chứng kiến), bản tường trình của ông Phạm Minh N (do ông Phạm Minh N trình bày), biên bản xét nghiệm nước tiểu của ông Phạm Minh N dương tính với chất tổng hợp (có xác nhận của ông Phạm Minh N) là hoàn toàn phù hợp với nhau; đồng thời tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 24/8/2017 của Bác sỹ Trần Hữu Nghĩa (đang công tác tại Phòng Y tế - Cơ sở xã hội Nhị Xuân), xác định: ông Phạm Minh N nghiện chất dạng Amphetamine, xét thấy theo danh sách Bác sỹ của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh thì Bác sỹ Trần Hữu Nghĩa có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; do vậy căn cứ vào khoản 16 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính và những nội dung nhân định trên, có cơ sở xác định Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 24/8/2017 của Bác sỹ Trần Hữu Nghĩa (đang công tác tại Phòng Y tế - Cơ sở xã hội Nhị Xuân), xác định: ông Phạm Minh N nghiện chất dạng Amphetamine là có cơ sở, chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định số: 82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ thì đó là chất ma túy.

Ngoài ra, ông Phạm Minh N không thuộc trường hợp không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Do vậy, ông Phạm Minh N là người không có nơi cư trú ổn định, nhưng bản thân nghiện ma túy, trên 18 tuổi, nên cần thiết quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Minh Ntheo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 5, Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; nhằm mục đích để ông Phạm Minh N chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về nhân thân: tốt.

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: xét thấy người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thật sự thành thật hối lỗi; đó là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính, mà trong lời đề nghị của đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10 cũng có nêu.

Căn cứ vào Điều 3, Điều 9, Điều 12, Điều 22, Điều 23 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; điểm d khoản 2 Điều 6; Điều 96; khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Phạm Minh N.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở cai nghiện ma túy số 1.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày 20/8/2017.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan biết.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10 có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án nhân dân Quận 10.

Thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị là 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở xã hội Nhị Xuân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Cỡ chữ