vanban.org

Quyết định 116/2024/DS-GĐT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/05/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 62/QĐ-VKS-DS ngày 22/02/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Giữ nguyên Bản án phúc thẩm số 242/2022/DS-PT ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang về vụ “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, giữa nguyên đơn là bà Trần Thị L và bị đơn là ông Trần Văn S. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định này./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Phúc thẩm Bản án 242/2022/DS-PT Tuyên án 14/09/2022
Giám đốc thẩm — đang xem Bản án 116/2024/DS-GĐT Tuyên án 08/05/2024

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Trần Thị L kiện ông Trần Văn S về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"."
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 62/QĐ-VKS-DS ngày 22/02/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 325 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 337 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Quyết định giám đốc thẩm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 116/2024/DS-GĐT
Ngày: 08/5/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Cường

Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Châu

Ông Hoàng Thanh Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Kỳ - Thẩm tra viên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 08/5/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1970

Địa chỉ: ấp TM, xã TBT, huyện CG, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 1973

Địa chỉ: số 01 TQT, Phường 4, thành phố MT, tỉnh Tiền Giang.

Địa chỉ liên lạc: số 212 Quốc lộ 50, Ấp 3B, xã ĐT, thành phố MT, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày: ngày 07/7/2020 (nhằm ngày 17/5/2020 âm lịch), bà cho ông Trần Văn S vay 03 tỷ đồng, lãi suất 03/%/tháng, thời hạn vay là 07 ngày; bà đã giao tiền cho ông S và ông S có viết biên nhận nhận tiền. Khi đến hạn trả tiền, ông S hẹn 10 ngày sau sẽ trả vốn và lãi cho bà. Tuy nhiên, cho đến nay ông S vẫn không trả vốn và lãi cho bà. Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông S trả cho bà tiền vốn 03 tỷ đồng và tiền lãi tính từ ngày 07/7/2020 đến ngày xét xử (tạm tính là 896.400.000 đồng).

2. Bị đơn ông Trần Văn S do ông Đặng Văn T làm đại diện theo ủy quyền trình bày: Ông Trần Văn S và bà Trần Thị L không có giao dịch vay tiền, trước đây ông S nhiều lần vay của bà Bùi Thị M. Theo bà M nói lại với ông S thì nguồn tiền cho ông S vay là do bà M huy động của nhiều người, trong đó có tiền của bà L. Do năm 2020, ông S làm ăn gặp khó khăn chưa có tiền trả cho bà M nên bà M, bà L và các chủ nợ khác đến trụ sở Công ty TNHH sản xuất nông sản CT do ông S làm chủ đập phá và ép ông S ký biên nhận nợ. Vì vậy, bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Tòa án đưa bà M vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại Bản án sơ thẩm số 62/2022/DS-ST ngày 16/6/2022, Tòa án nhân dân thành phố MT, tỉnh Tiền Giang quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L.

Buộc ông Trần Văn S trả cho bà Trần Thị L số tiền vốn 3.000.000.000 đồng và tiền lãi 562.500.000 đồng, tổng cộng 3.562.500.000 đồng (Ba tỷ năm trăm sáu mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng), thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 20/6/2023, ông Trần Văn S kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại Bản án phúc thẩm số 242/2022/DS-PT ngày 14/9/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn S.

Ghi nhận tự nguyện của nguyên đơn Trần Thị L (đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Huỳnh N) đồng ý khấu trừ số tiền 10.000.000 đồng vào tiền lãi.

Sửa bản án sơ thẩm như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L.

Buộc ông Trần Văn S có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị L số tiền vốn 3.000.000.000 đồng và tiền lãi 552.500.000 đồng, tổng cộng 3.552.500.000 đồng (Ba tỷ năm trăm năm mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng).

Ngày 15/6/2023, ông Trần Văn S có đơn đề nghị giám đốc thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 62/QĐ-VKS-DS ngày 22/02/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm số 242/2022/DS-PT ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm nêu trên và Bản án sơ thẩm số 62/2022/DS-ST ngày 16/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố MT, tỉnh Tiền Giang để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Trần Thị L khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn S trả cho bà số tiền nợ vay 3.000.000.000 đồng và tiền lãi. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn cung cấp chứng cứ là Giấy nhận nợ ngày 17/5/2020, có nội dung: “Hôm nay ngày 17/5/2020 (âm lịch). Tôi tên: Trần Văn S. CMND: xxx.xxx.xxx. Có mượn của chị Trần Thị L số tiền 3 tỷ đồng”. Tại Kết luận giám định số 514/KL-KTHS (Đ2) ngày 25/5/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận chữ viết và chữ ký trong giấy nhận nợ đúng là chữ viết và chữ ký của ông Trần Văn S. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Đặng Văn T đại diện theo ủy quyền của ông S cho rằng ông S vay tiền của bà Bùi Thị M, không có vay tiền của bà L, nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử buộc ông Trần Văn S trả cho bà Trần Thị L số tiền nợ vay 3.000.000.000 đồng và tiền lãi 562.500.000 đồng, tổng cộng 3.52500.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đặng Văn T đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng không cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Tuy nhiên, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Huỳnh N thừa nhận nguyên đơn có nhận của bị đơn 10.000.000 đồng tiền lãi và đồng ý khấu trừ vào tiền lãi cho bị đơn. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm đối với phần tiền lãi, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ vay 3.000.000.000 đồng và tiền lãi 552.500.000 đồng, tổng cộng 3.552.500.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì vậy, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không đưa bà Bùi Thị M vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên đề nghị huỷ cả hai bản án (sơ thẩm và phúc thẩm) để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm là không có cơ sở nên không chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 325, điểm a khoản 1 Điều 337, khoản 1 Điều 343, Điều 349 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 62/QĐ-VKS-DS ngày 22/02/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Giữ nguyên Bản án phúc thẩm số 242/2022/DS-PT ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang về vụ “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, giữa nguyên đơn là bà Trần Thị L và bị đơn là ông Trần Văn S.

2. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định này./.

Cỡ chữ