vanban.org

Quyết định 112/2021/QDST-XLHC

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/03/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Đỗ Minh T. Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức thuộc Sở Lao Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đỗ Minh T bị đưa đi cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 112/QĐ-TAThành phố Thủ Đức, ngày 18 tháng 3 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Phạm Anh Ngọc.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Dung.

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2, Tòa án

nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp để

giải quyết hồ sơ thụ lý số 120/XLHC ngày 10 tháng 3 năm 2021 về việc xem

xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt

buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 101/QĐ-TA ngày 10 tháng 3 năm 2021,

đối với:

Ông Đỗ Minh T, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu

thường trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh D; nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn

định; con ông Đỗ Hải V và bà Trần Thị C; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh;

tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 10/12; tiền án, tiền sự: Không.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đồng Văn Công – Chuyên viên Phòng

Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức: Ông Hoàng Hải -

Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 21/12/2020, Công an phường Bình Trưng Tây, Quận 2, Thành phố

Hồ Chí Minh phát hiện ông Đỗ Minh T có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép

chất ma túy. Tại trụ sở Công an phường Bình Trưng Tây, ông T thừa nhận có sử

dụng ma túy. Qua xét nghiệm kết quả nhanh về ma túy xác định ông T dương

tính với chất ma túy. Công an phường Bình Trưng Tây, Quận 2 đã tiến hành lập

biên bản vi phạm hành chính đối với ông T về hành vi “Sử dụng trái phép chất

ma túy”.

Tại phiên họp, ông Đồng Văn Công đại diện Phòng Lao động - Thương

binh và Xã hội thành phố Thủ Đức trình bày: Đề nghị Tòa án nhân dân thành

phố Thủ Đức ban hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Đỗ Minh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh với thời gian từ 18 đến 24 tháng.

Người bị đề nghị ông Đỗ Minh Ttrình bày: Ông Tthừa nhận là người

nghiện ma túy và đồng ý đi cai nghiện. Ông T đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ thời gian cai nghiện.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức về tố

tụng: Quá trình thụ lý và mở phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã chấp hành đúng Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Đỗ Minh T.

XÉT THẤY:

Tại Bản tường trình ngày 21/12/2020 và tại phiên họp, ông Đỗ Minh T

thừa nhận có sử dụng ma túy. Căn cứ Phiếu trả lời kết quả ngày 21/12/2020 của Bệnh viện Quận 2 cho thấy: Ông Đỗ Minh T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Amphetamin và Methamphetamine. Do đó, có cơ sở xác định ông T là người nghiện ma túy.

Căn cứ các kết quả trả lời xác minh của Công an phường Cát Lái, Quận 2,

(nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh và Phiếu trả lời xác minh của Công an xã A, huyện B, tỉnh C có trong hồ sơ vụ việc và sự thừa nhận của ông Ttại phiên họp, có đủ cơ sở kết luận ông Tlà người không có nơi cư trú ổn định.

Mặt khác, về tài liệu có trong hồ sơ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ

sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Đỗ Minh Tlà phù hợp với quy định của pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 3, Điều 103, Điều 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 8, 9, 10, 11, 12, 13 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ. Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Từ các nhận định nêu trên, có đủ cơ sở xác định hồ sơ đề nghị áp dụng

biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Tlà hợp pháp.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông T là nguy hiểm, là tiền đề

làm phát sinh nhiều loại tội phạm, gây mất an ninh, trật tự xã hội. Tại phiên họp ông T đã nhận thức được hành vi sai trái của mình, đồng ý đi cai nghiện bắt buộc để sửa đổi bản thân, tuy nhiên bản thân ông T không có nơi cư trú ổn định nên khả năng tự cai nghiện là không có. Do vậy, để cắt cơn nghiện và cai nghiện ma túy để ông T có điều kiện tái hòa nhập với cộng đồng, xã hội thì việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức là cần thiết. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi

phạm hành chính chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã

hội thành phố Thủ Đức.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Đỗ Minh T.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức thuộc Sở Lao

động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám)

tháng, kể từ ngày 21/12/2020 (ngày ông T bị đưa vào Cơ sở xã hội Thanh Thiếu

niên 2).

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt

buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ

chức có liên quan biết.

3. Ông Đỗ Minh T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn là 03

ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức có quyền

kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị

quyết định này trong thời hạn là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố

quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội

thành phố Thủ Đức; Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Cỡ chữ