- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa anh Cao Xuân K và chị Lê Thị Hồng H"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Anh Cao Xuân K và chị Lê Thị Hồng H.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 112/2019/QĐST - HNGĐ | N, Ngày 29 tháng 11 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số:104/2019/TLST- HNGĐ, ngày 15 tháng 08 năm 2019, giữa:
Nguyên đơn: Anh Cao Xuân K – Sinh năm: 1991.
Địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Chị Lê Thị Hồng H – Sinh năm: 1994.
Địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Căn cứ vào Điều 144, 147, 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 55; 57; 58; 68; 69; 70; 71; 72; 81; 82; 83; 84; 110; 116; 117 và Điều 119 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 6, 19, 26 và Điều 27 của nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 21 tháng 11 năm 2019.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản nghi nhận sự tự nguyện và hoà giải thành ngày 21/11/2019 là tự nguyện và không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Anh Cao Xuân K và chị Lê Thị Hồng H.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
* Về hôn nhân: Anh Cao Xuân K và chị Lê Thị Hồng H đều có ý kiến chung, cùng thống nhất: Anh, chị kết hôn với nhau vào ngày 14/02/2014, có giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã B, huyện N cấp trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện không ai bị lừa dối, ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng Anh K và chị H chung sống hạnh phúc được khoảng 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm sống và tính tình không hợp nhau, vợ chồng đã sống ly thân không ai quan tâm, chăm sóc gia đình chung. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cả anh K và chị H đều thống nhất thuận tình ly hôn.
* Về con chung: Anh Cao Xuân K và chị Lê Thị Hồng H đều có ý kiến chung, cùng thống nhất: Trong quá trình chung sống vợ chồng không ai có con riêng và có với nhau 01 con chung. Cháu tên là: Cao Xuân N - Gới tính: Nam - Sinh ngày: 08/8/2014. Hiện nay cháu N bị dị tật bẩm sinh, bị bại não, phát triển không bình thường như những đứa trẻ khác (Có giấy xác nhận khuyết tật và sổ lĩnh tiền trợ cấp), hiện tại cháu N đang ở cùng Anh K (Là bố đẻ). Anh Cao Xuân K và chị Lê Thị Hồng H đều có ý kiến chung, thống nhất là: Giao cháu Cao Xuân N cho Cao Xuân K trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Lê Thị Hồng H có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng là 1.000.000 đồng/01 tháng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 01/12/2019 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Nếu đến khi thành niên cháu N không có khả năng lao động và không tự nuôi sống được bản thân hoặc không có năng lực hành vi dân sự thì Anh K có quyền yêu cầu chị H phải tiếp tục cấp dưỡng tiền nuôi cháu N.
Chị Lê Thị Hồng H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được phép ngăn cản chị thực hiện quyền này và chị H có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con theo quy định.
* Về tài sản và các nghĩa vụ chung: Anh Cao Xuân K và chị Lê Thị Hồng H đều có ý kiến thống nhất: Vợ chồng chúng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết trong vụ án này.
* Về án phí: Anh Cao Xuân K và chị Lê Thị Hồng H đều có ý kiến chung, cùng thống nhất: Anh Cao Xuân K phải chịu 150.000 đồng tiền án phí DS - HNGĐ sơ thẩm nhưng hiện tại anh đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, theo biên lai thu tiền số AA/2016/0001942, ngày 15 tháng 08 năm 2019. Như vậy, anh K được nhận lại 150.000 đồng tiền tạm ứng án phí; Chị Lê Thị Hồng H phải chịu 150.000 đồng tiền án phí DSST không có giá ngạch vì là người phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - UBND xã B, huyện N; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN (Đã ký và đóng dấu) Ngô Công Tuấn |