vanban.org

Quyết định 111/QĐ-TA

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 23/04/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Xuân S.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ông Nguyễn Xuân S có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết địn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Nguyễn Xuân S"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Xuân S.
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng; Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
---------------
Số: 111/QĐ-TA
Biên Hòa, ngày 23 tháng 4 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn

2. Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Ngọc Huế - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Ngày 23 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 121/QĐ-TA ngày 17 tháng 4 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Xuân S. Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày: 06/9/1991.

Trình độ văn hóa: 12/12.

Nguyên quán: Bà Rịa – Vũng Tàu.

Nơi thường trú: Tổ A, Khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Nơi ở hiện tại: Tổ A, Khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2022 bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 30/QĐ-TA ngày 15/9/2022.

Con ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Đại uý Nguyễn Tiến C – Cán bộ Công an phường T, tỉnh Đồng Nai.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Nguyễn Xuân S là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý từ năm 2014 tới nay, tại bản tường trình S khai nhận đã sử dụng chất ma túy vào ngày 11/3/2025. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 14/3/2025 của Bác sỹ - Trạm y tế phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đã xác định tình trạng nghiện ma túy: Nguyễn Xuân S có nghiện ma túy Methamphetamine (Đá). Ngày 14/3/2025, Công an phường T, thành phố B đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện và điều trị nghiện.

Ngày 14/3/2025, Công an phường T, thành phố B đã ban hành thông báo số 35/CAP-TB về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và ban hành văn bản số 43/ĐN-CNBB về việc xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp, Đại diện Công an phường T giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai đối với Nguyễn Xuân S thời hạn 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố B đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Công an phường T và đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai đối với Nguyễn Xuân S thời hạn từ 18 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị

- Căn cứ, đối tượng áp dụng: Nguyễn Xuân S là người trên 18 tuổi, đang nghiện ma túy và đã vi phạm vì đã có quyết định tai nghiện tự nguyện tại gia đình cộng đồng mà không cai nghiện, tự ý chấm dứt cai nghiện ma tuý. Căn cứ vào khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy ngày 30/3/2021; Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ thì đây là đối tượng cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/ 12/ 2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp này hiện đang trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đã được thực hiện theo đúng quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07 tháng 02 năm 2018 của Bộ C1.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: Nguyễn Xuân S là đối tượng thường xuyên sử dụng ma tuý, vi phạm tự ý chấm dứt điều trị khi đăng ký điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. S không có tình tiết tăng nặng, chưa có tiền án tiền sự. Tuy nhiên, S có nhân thân xấu; đã sử dụng ma túy thời gian dài từ năm 2014 tới nay. Nhận thấy S không thành thật hối lỗi để cố gắng cai nghiện ma túy.

Về lý do, căn cứ và sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính:

- Ý kiến của Công an phường T đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Xuân S thời hạn n 24 tháng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Xuân S.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Ông Nguyễn Xuân S có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Công an phường T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an phường T, tỉnh Đồng Nai có trách nhiệm phối hợp thi hành quyết định này.

Cỡ chữ