vanban.org

Quyết định 1103/2019/QĐ-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/11/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Lê Hoàng Trung.

HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Lê Hoàng N-Lê Hoàng T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Lê Hoàng Trung.
  • Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ giải

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_____________________
Số: 1103/2019/QĐ-PT
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 11 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Mỹ Nhung.

Các Thẩm phán: 1. Ông Lưu Ngọc Thạch.

2. Bà Vũ Thị Thu Hương.

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Đỗ Từ Thanh Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Yến Oanh – Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 176/2019/QĐST-DS, ngày 09 tháng 8 năm 2019;

Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào Điều 48, Điều 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Hoàng Nam, sinh năm 1965;

Địa chỉ: 21/13 đường Lý Phục Man, phường Bình Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Tường Vi Liễu, sinh năm 1981.

(Giấy ủy quyền lập tại Văn phòng công chứng Tân Thuận, số công chứng: 00001043, quyển số: 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14 tháng 01 năm 2019).

Địa chỉ: 331 đường Trần Hưng Đạo, phường Cô Giang, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Lê Hoàng Trung, sinh năm 1968;

Địa chỉ: C13/67 đường Tôn Đản, Phường 13, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Văn Cường, sinh năm 1986.

(Giấy ủy quyền lập tại Văn phòng công chứng Tân Thuận, số công chứng: 00005531, quyển số: 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29 tháng 3 năm 2019).

Địa chỉ: 205 đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị Minh Thắng, sinh năm 1966.

Địa chỉ: C13/67 đường Tôn Đản, Phường 13, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Văn Cường, sinh năm 1986. (Giấy ủy quyền lập tại Văn phòng công chứng Tân Thuận, số công chứng: 00005531, quyển số: 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29 tháng 3 năm 2019). Địa chỉ: 205 đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đơn kháng cáo ngày 20 tháng 8 năm 2019 của bị đơn là ông Lê Hoàng Trung kháng cáo với lý do: Ngày 05 tháng 4 năm 2019 tại bản tự khai bị đơn yêu cầu buộc nguyên đơn phải trả lại cho bị đơn phần diện tích 18,3m2 mà nguyên đơn đã lấn chiếm. Khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện, Tòa án huyện Nhà Bè đã không xem xét quyền phản tố của bị đơn là không đúng theo quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn được quy định tại Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, Thẩm phán, Hội đồng phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ và đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của đương sự còn trong thời hạn pháp luật quy định.

- Về nội dung: Nguyên đơn ông Lê Hoàng Nam yêu cầu Tòa án giải quyết việc tranh chấp 18,3m2 đất của ông Lê Hoàng Trung, xác định phần đất này thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của ông theo Giấy chứng nhận do Ủy ban nhân dân huyện Nhà Bè cấp ngày 06/9/2012. Tại bản tự khai ngày 05/4/2019, ông Đào Văn Cường là đại diện theo ủy quyền của bị đơn có ý kiến không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời yêu cầu Tòa án buộc ông Nam phải trả lại phần diện tích đất 18,3m2 mà ông Nam đã lấn chiếm xây dựng trái phép. Tuy nhiên yêu cầu này của bị đơn chưa được Tòa án thụ lý, thủ tục phản tố của bị đơn chưa thực hiện theo đúng quy định tại Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hoàng Trung, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 176/2019/QĐST-DS, ngày 09 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

XÉT THẤY:

[1] Về hình thức: Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè đã thụ lý giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 150/2019 ngày 15 tháng 02 năm 2019 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Lê Hoàng Nam và bị đơn là ông Lê Hoàng Trung. Ngày 09 tháng 8 năm 2019, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 176/2019/QĐST-DS. Ngày 13 tháng 8 năm 2019, Tòa án tống đạt quyết định cho người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Tường Vi Liễu và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Đào Văn Cường. Ngày 20 tháng 8 năm 2019, Tòa án nhận đơn kháng cáo của bị đơn đối với quyết định trên. Hội đồng phúc thẩm xét đơn kháng cáo của bị đơn là còn trong thời hạn luật định theo quy định tại khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét kháng cáo của bị đơn là ông Lê Hoàng Trung: Bản khai ngày 05 tháng 4 năm 2019 thể hiện bị đơn đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và tại bản khai bị đơn trình bày bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè buộc nguyên đơn là ông Lê Hoàng Nam phải trả lại cho bị đơn phần đất thuộc quyền sở hữu của bị đơn có diện tích 18,3m2 đã bị nguyên đơn lấn chiếm. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ngày 20 tháng 5 năm 2019 đại diện cho bị đơn có bản khai về việc đo vẽ phần đất tranh chấp và việc thẩm định, định giá tài sản; Ngày 30 tháng 7 năm 2019 có đơn đề nghị Tòa án đo vẽ phần đất chồng lấn ranh và xem xét thẩm định tại chỗ đối với phần đất tranh chấp. Tuy nhiên, phía bị đơn lại không bổ sung cho Tòa án đơn phản tố đối với yêu cầu phản tố của mình, để Tòa án xem xét đơn theo quy định của pháp luật. Từ khi bị đơn có yêu cầu phản tố tại bản khai cho đến ngày nguyên đơn có đơn xin rút đơn khởi kiện thời gian hơn 04 tháng nhưng nguyên đơn không thực hiện quyền cũng như thủ tục yêu cầu phản tố được qui định tại Điều 200 và 202 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè không có căn cứ để xem xét yêu cầu phản tố của bị đơn nên Tòa án chấp nhận đơn xin rút đơn của nguyên đơn đúng quy định của pháp luật.

[2.2] Tại đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc tranh chấp diện tích 18,3m2 đất giáp ranh với đất của bị đơn. Tại bản tự khai bị đơn trình bày bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu Tòa án buộc nguyên đơn phải trả lại cho bị đơn phần đất có diện tích 18,3m2 đã bị nguyên đơn lấn chiếm. Như vậy, bị đơn ngoài việc không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn, còn có thêm yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Giữa yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu của nguyên đơn có sự liên quan với nhau đó là cùng yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu đối với phần đất có diện tích 18,3m2. Do hai bên tranh chấp nhau cùng một phần đất nên giải quyết trong một vụ án thì việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn, theo điểm c khoản 2 Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nhưng như phân tích ở trên, do bị đơn không thực hiện quyền của mình nên khi nguyên đơn có đơn xin rút đơn khởi kiện, Tòa án căn cứ điểm c Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ án. Việc đình chỉ này cũng không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, bị đơn có quyền nộp đơn khởi kiện theo qui định tại các Điều 186, 189 và 190 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 176/2019/QĐST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2019 là đúng qui định pháp luật.

[2.3] Từ các phân tích trên, kháng cáo của bị đơn yêu cầu hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 176/2019/QĐST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè là không có căn cứ để chấp nhận. [2.4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là có cơ sở để chấp nhận. [2.5] Căn cứ điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng phúc thẩm giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 176/2019/QĐST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè. Giao hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật. [2.6] Ông Lê Hoàng Trung phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Bởi các lẽ trên; Căn cứ khoản 1 Điều 148 và điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Lê Hoàng Trung. 2. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 176/2019/QĐST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh 3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Hoàng Trung phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông Lê Hoàng Trung đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: AA/2018/0034386 ngày 23 tháng 8 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA

PHIÊN HỌP Lưu Ngọc Thạch

Vũ Thị Thu Hương

Lê Thị Mỹ Nhung

Cỡ chữ