- Tranh chấp gì? "PHẠM QUANG D"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Quang D.
- Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 110/2019/QĐ-TA Ngày 20 – 6 – 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần phiên họp gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Đinh Thị Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột.
Ngày 20/6/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, tiến hành mở phiên họp để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 103/2019/QĐ-TA ngày 12/6/2019 đối với:
Họ và tên: Phạm Quang D; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 10 tháng 4 năm 1990 tại tỉnh Đắk Lắk.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Tiền án: Bản án số 333/HSST ngày 29/9/2009 của TAND Tp. Buôn Ma Thuột xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án 147/HSST ngày 16/6/2011 của TAND Tp. Buôn Ma Thuột xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Tiền sự: 01.
Con ông: Phạm Hồng T và bà: Trần Thị Kim T1. Cùng địa chỉ: Thôn T, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố B, tỉnh Đắk Lắk: Ông Nguyễn Phượng H – Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố B - Có mặt.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột: Ông Y Lương Byă – Chức vụ Kiểm sát viên - Có mặt.
NHẬN THẤY
Phạm Quang D là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 20 giờ ngày 22/04/2019 Phạm Quang D có hành vi sử dụng ma túy trái phép tại khu vực chợ T thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 23/4/2019 Công an phường T mời Phạm Quang D đến làm việc và đã đưa Phạm Quang D đến Bệnh viện đa khoa thành phố B để xác định tình trạng nghiện. Kết quả Bệnh viện đa khoa thành phố B xác định Phạm Quang D dương tính với Amphetamin và Methamphetamin. Qua xác minh nơi cư trú xác định: Phạm Quang D có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Phạm Quang D đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số 210/QĐ-UBND ngày 23/10/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thời hạn áp dụng là 03 tháng kể từ ngày 23/10/2018 đến ngày 23/01/2019. Phạm Quang D đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định trên.
Căn cứ vào Nghị định số 221/2013/NĐ-CP, ngày 30/12/2013 của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP, ngày 30/12/2013 của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 04/6/2019 Phòng Lao động - Thương binh xã hội thành phố B đã có công văn số: 380/LĐTB&XH -PCTNXH đề nghị Tòa án nhân dân xem xét, xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc tại cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk đối với Phạm Quang D.
* Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố B có ý kiến: Căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Quang D do Công an xã E, thành phố B lập đã thể hiện: Phạm Quang D nghiện ma túy loại Methamphetamin, amphetamin. Do vậy đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk đối với Phạm Quang D, thời hạn từ 14 tháng đến 16 tháng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lắk có ý kiến: Từ khi Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đến ngày mở phiên họp và tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã đảm bảo đúng trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk đối với Phạm Quang D với thời hạn từ 14 tháng đến 16 tháng.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và lời trình bày của những người tham gia tại phiên họp xét thấy:
Phòng Lao động, thương binh xã hội thành phố B đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Quang D đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Phạm Quang D là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Mặc dù biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng, nhưng Phạm Quang D vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy. Xét hành vi của Phạm Quang D đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính Nhà nước đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Do đó, cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:
1.“Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định”
Căn cứ vào Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị Định số 221/2013/NĐ - CP, ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP, ngày 30/12/2013 của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; các Điều 19, Điều 20 và Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của đối tượng Phạm Quang D đã gây ra. Phạm Quang D là người đã có 02 tiền án và đã bị Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn là 03 tháng nhưng vẫn không tu dưỡng, rèn luyện, không từ bỏ mà vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Xét hành vi của Phạm Quang D có tính liên tục nên cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố B, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian nhất định thì mới phát huy tác dụng chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc để trở thành công dân tốt, sống biết tôn trọng pháp luật.
Hành vi vi phạm của Phạm Quang D thuộc trường hợp có tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính và không có tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Quang D.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk là 24 (hai bốn) tháng, kể từ khi Phạm Quang D bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
Cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố B có quyền kiến nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát Tp. Buôn Ma Thuột; - Công an Tp. Buôn Ma Thuột; - Phòng LĐTB & XH Tp.B; - UBND xã E, Tp. B; - Người bị đề nghị Phạm Quang D; - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh ĐắkLắk; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (ĐÃ KÝ) Nguyễn Thị Thu Trang |