vanban.org

Quyết định 11/QĐ-TA

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 27/02/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sơ tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Nguyễn T có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn T.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 02 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 10 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/QĐ-TAP, ngày 27 tháng 02 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Thanh Hà.

2. Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Lệ Quyên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 11/QĐ-TA ngày 20 tháng 02 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Nguyễn T. Sinh năm 1988.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 2, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Chỗ ở hiện nay: Tổ 9, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Con ông Nguyễn P và bà Nguyễn H ( đã chết).

Nghề nghiệp: Thợ sửa máy cưa.

Tiền án: không; tiền sự: 01.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hoàng Đức Tân - Chuyên viên của Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai (theo văn bản ủy quyền số: 49/UQ-LĐTBXH ngày 26/02/2020).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai: Bà Trần Thị Thắng Trinh - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Nguyễn T, sinh năm 1988, có hộ khẩu thường trú tại tổ 2, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Năm 2015, T và gia đình chuyển đến sinh sống ổn định tại số nhà 02/23/8 đường T, tổ 9, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Hiện nay, T có nơi cư trú ổn định tại tổ 9, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Nguyễn T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 5 năm 2018 cho đến nay, loại ma tuý T sử dụng là ma tuý đá, hình thức sử dụng ma tuý là hút. Đối tượng T đã nhiều lần sử dụng ma tuý trên địa bàn thành phố P. Ngày 13-9-2019 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bị Công an thành phố P phát hiện và giao cho Công an phường P lập hồ sơ đưa đi giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số 230/QĐ-UBND ngày 13-9-2019 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường P, thành phố P. Đến ngày 13-12-2019 chấp hành xong quyết định biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số 05/GCN- UBND ngày 14-12-2019 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường P. Đến ngày 28-12-2019 Nguyễn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bị phát hiện ( theo biên bản vi phạm hành chính do Công an phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai lập vào ngày 31-12-2019).

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố P là ông Hoàng Đức Tân đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy là đối tượng Nguyễn T với thời hạn từ 15 tháng đến 18 tháng.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Nhất trí với hồ sơ đề nghị với của Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Nguyễn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 136/2016/ NĐ- CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Nguyễn T, sinh năm 1988, có hộ khẩu thường trú tại tổ 2, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Năm 2015, T và gia đình chuyển đến sinh sống ổn định tại số nhà 02/23/8 đường T, tổ 9, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Hiện nay, T có nơi cư trú ổn định tại tổ 9, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai, đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng vẫn tiếp tục tái nghiện nên Nguyễn T là đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 136/2016/ NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P lập hồ sơ đối với đối tượng Nguyễn T là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Nguyễn T được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

Nguyễn T, sinh năm 1988, có hộ khẩu thường trú tại tổ 2, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Năm 2015 T và gia đình chuyển đến sinh sống ổn định tại số nhà 02/23/8 đường T, tổ 9, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Hiện nay, T có nơi cư trú ổn định tại tổ 9, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Nguyễn T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 5 năm 2018 cho đến nay, loại ma tuý T sử dụng là ma tuý đá, hình thức sử dụng ma tuý là hút. Đối tượng T đã nhiều lần sử dụng ma tuý trên địa bàn thành phố P. Ngày 13-9-2019 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bị Công an thành phố P phát hiện và giao cho Công an phường P lập hồ sơ đưa đi giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số 230/QĐ-UBND ngày 13-9-2019 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường P. Đến ngày 13-12-2019 chấp hành xong quyết định biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số 05/GCN- UBND ngày 14-12-2019 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường P. Đến ngày 28-12-2019 Nguyễn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bị phát hiện. Công an phường P đã đưa T đến Trạm y tế phường P, thành phố P xét nghiệm tình trạng nghiện của T và có kết quả dương tính với MET (ma tuý đá) và AMT ( ma tuý tổng hợp) . Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn T.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào các Điều 7, 95, 96,và 108 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ vào các Điều 3, 7, 8, 9, 10, 02, 12, 14, 16, 17 và Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào các Điều 3, 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Nghị định số 136/2016/NĐ – CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sơ tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Nguyễn T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Cỡ chữ