vanban.org

Quyết định 11/QĐ-TA

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 02/04/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Hàng Đức Thái, sinh ngày: 10/10/1989; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố 2, Phường C , thành phố B , tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: khu phố A, Phường C, thành phố B, tỉnh Bến Tre; Con ông Huỳnh Thanh T,…

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (mười bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Anh Hàng Đức T được quyền khiếu nại; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Bến Tre được quyền kiến nghị; Viện ki… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Hàng Đức Thái, sinh ngày: 10/10/1989; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố 2, Phường C , thành phố B , tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: khu phố A, Phường C, thành phố B, tỉnh Bến Tre; Con ông Huỳnh Thanh T,…
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/QĐ-TAThành phố Bến Tre, ngày 02 tháng 4 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Bà Phạm Thị Xuân Thi

Thư ký phiên họp: Ông Lê Hoàng Út

Ngày 02 tháng 4 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 11/QĐ-TA ngày 23 tháng 3 năm 2018 đối với:

Họ và tên: HÀNG ĐỨC T; Giới tính: Nam;

Sinh ngày: 10/10/1989;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hoá: 3/12;

Nguyên quán: thành phố B, tỉnh T;

Hộ khẩu thường trú: khu phố A, Phường C, thành phố B, tỉnh T;

Nơi cư trú: khu phố A, Phường C , thành phố B, tỉnh T;

Nghề nghiệp: không;

Tiền án: không;

Tiền sự:

+ Tại Quyết định số 28/QĐ-XPHC ngày 23/11/2016 của Công an Phường C , thành phố B, tỉnh T đã xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;

+ Tại Quyết định số 09/QĐ-UBND ngày 27/3/2017 của Ủy ban nhân dân Phường C , thành phố B, tỉnh T đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 3 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;

Con ông Huỳnh Thanh T, sinh năm: 1969 và bà Hàng Thanh V, sinh năm: 1969;

Anh Hàng Đức T có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Thanh Tùng – Phó trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre: Bà Lư Ngọc Thiên An - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 21/3/2018, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Bến Tre có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Hàng Đức T do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/01/2018, do nghi ngờ anh Hàng Đức T đã có sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an Phường C, thành phố B mời anh T về trụ sở để làm rõ. Tại Công an Phường C, thành phố B, anh Hàng Đức T thừa nhận có sử dụng ma túy nên Công an Phường 4 đã mời Trạm y tế Phường 4 đến để xét nghiệm. Kết quả anh Hàng Đức T dương tính với chất Methamphetamine.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Bến Tre có ý kiến: Do anh Hàng Đức T nghiện ma túy và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ đúng trình tự theo quy định của pháp luật và đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre đối với anh Hàng Đức T với thời hạn là 14 tháng.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp xác định: hồ sơ đã được lập đúng theo trình trự thủ tục theo luật định. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Hàng Đức T theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Bến Tre.

Tại phiên họp: Anh Hàng Đức T thừa nhận đã sử dụng và nghiện ma túy từ cuối năm 2015 cho đến ngày 31/01/2018 bị Công an Phường C , thành phố B mời làm việc và Trạm y tế Phường 4 xét nghiệm kết quả dương tính với chất Methamphetamine.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ và ý kiến của những người tham gia phiên họp,

XÉT THẤY:

Căn cứ biên bản xét nghiệm chất ma túy, biên bản xác minh vụ việc vi phạm hành chính, biên bản vi phạm hành chính số 05 ngày 31/01/2018 của Công an Phường C , thành phố B thể hiện anh Hàng Đức T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine tại Phường C, thành phố B, tỉnh Bến Tre có chữ ký tên xác nhận của anh Hàng Đức Thái.

Căn cứ vào tờ tường thuật và bản tường trình do anh Hàng Đức T tự viết và nhờ người viết hộ đã thể hiện bản thân anh T nghiện ma túy và vào ngày 28/01/2018 có sử dụng trái phép chất ma túy nên đã bị Công an Phường C, thành phố B lập biên bản vi phạm hành chính.

Căn cứ phiếu trả lời kết quả về việc xác định trình trạng nghiện ma túy ngày 05/02/2018 của Trạm y tế Phường 4 thuộc Trung tâm y tế thành phố Bến Tre thể hiện anh Hàng Đức Tnghiện ma túy.

Căn cứ vào Quyết định số 09/QĐ-UBND ngày 27/3/2017 của Ủy ban nhân dân Phường C , thành phố B đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với anh Hàng Đức Tvới thời hạn 3 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Với những căn cứ trên đã có đủ cơ sở kết luận: hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Hàng Đức Tđã được Công an Phường 4, Ủy ban nhân dân Phường C , thành phố B , Phòng tư pháp thành phố Bến Tre, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre lập đúng và đầy đủ theo trình tự pháp luật quy định. Do đó, đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre là có cơ sở.

Anh Hàng Đức Tlà người trên 18 tuổi và biết rõ chất ma túy là chất độc hại, việc sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của anh Hàng Đức T đã xâm phạm đến chủ trương chính sách của Nhà nước về bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó, việc bắt buộc cai nghiện đối với anh Hàng Đức T là cần thiết.

Xét thấy, anh Hàng Đức T đã bị các cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính và áp dụng biện pháp hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn không từ bỏ mà tiếp tục sử dụng và nghiện chất ma túy nên cần phải có thời gian cai nghiện nhất định mới giúp anh T từ bỏ việc sử dụng ma túy.

Từ những nhận định trên, xét anh Hàng Đức T là người trên 18 tuổi, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mà vẫn còn nghiện ma túy nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Hàng Đức Thái, sinh ngày: 10/10/1989; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố 2, Phường C , thành phố B , tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: khu phố A, Phường C, thành phố B, tỉnh Bến Tre; Con ông Huỳnh Thanh T, sinh năm: 1969 và bà Hàng Thanh V, sinh năm: 1969.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (mười bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Anh Hàng Đức T được quyền khiếu nại; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Bến Tre được quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre được quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ