- Tranh chấp gì? "Đưa đi cai nghiện"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S. Địa chỉ: Số x đường H, khóm y, phường z, thành phố S, tỉnh S đối với anh Vưu Đức C, sinh năm 1996.
- Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _____________ Số: 11/QĐ-TA | Trần Đề, ngày 25 tháng 01 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Đặng Thị Ngọc Trân.
2. Thư ký phiên họp: Bà Lý Thị Qual.
Ngày 25 tháng 01 năm 2021, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S. Địa chỉ: Số x đường H, khóm y, phường z, thành phố S, tỉnh S. Tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số 08/QĐ-TA ngày 14 tháng 01 năm 2021 đối với:
Họ và tên: Vưu Đức C. Giới tính: Nam (Có mặt).
Sinh năm: 1996.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 07/12.
Nguyên quán: Huyện T, tỉnh S.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh S.
Nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: Không.
Tiền án: 01 (Bị Tòa án nhân dân tỉnh S xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Giết người” theo bản án số 23/HSST ngày 17/6/2015. Ngày 31/7/2019, Trại giam Phước Hòa cấp Giấy chứng nhận số 453/GCN cho Vưu Đức C đã chấp hành xong án phạt tù).
Tiền sự: Không.
Con ông Vưu Thanh T, sinh năm 1968 (sống) và bà Bủi Thị L, sinh năm 1972 (sống).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lương Chí N – Chuyên viên Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh S (có mặt).
Địa chỉ: Khu Hành chính, ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh S.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề: Ông Trần Văn Hướng - Kiểm sát viên (Có mặt).
NHẬN THẤY:
Anh Vưu Đức C đã vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể:
Vào ngày 06/112020, Công an xã T, huyện T, tỉnh S mời anh Vưu Đức C làm việc vì nghi vấn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc anh C thừa nhận có sử dụng ma túy dạng đá, hình thức sử dụng là hút. Công an xã T có văn bản số 07/CAX ngày 06/11/2020 đề nghị Trung tâm y tế xã T xác định tình trạng nghiện của anh C. Trung tâm y tế xã T xác định anh C nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine. Qua xác minh, anh C không có nơi cư trú ổn định.
Vào ngày 06/11/2020, Công an xã T đã có bản đề nghị số 07/ĐN-CAX đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T Quyết định giao anh C cho cơ sở cai nghiện quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh C.
Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị là ông Lương Chí N: Anh Vưu Đức C là người trên 18 tuổi, được xác định là người nghiện chất ma túy (Amphetamine), không có nơi cư trú ổn định. Căn cứ khoản 2 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ, quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013. Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh S đề nghị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh S xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa anh C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S. Địa chỉ: Số x đường H, khóm y, phường z, thành phố S, tỉnh S, với thời hạn là 24 tháng để được cai nghiện bắt buộc.
Ý kiến của người bị đề nghị: Anh Vưu Đức C thừa nhận bản thân từng sử dụng ma túy khoảng 2 - 3 lần. Anh C thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật đúng như lời trình bày của cơ quan đề nghị và đồng ý đi cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện T.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý đến phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Trường hợp của anh Vưu Đức C đủ điều kiện để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân huyện T xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Vưu Đức C.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, người bị đề nghị.
XÉT THẤY:
Về trình tự, thủ tục: Người đề nghị đã thực hiện đúng với quy định tại Điều 95, Điều 96, điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Cở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về hành vi vi phạm: Anh Vưu Đức C thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và kết quả trả lời của cơ quan chuyên môn xác định anh C đã nghiện ma túy tổng hợp Methamphetamine. Việc sử dụng trái phép chất ma túy của anh C là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí tuệ của bản thân, là gánh nặng cho gia đình và xã hội, làm hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an. Ngoài ra, nghiện ma túy là một tệ nạn xã hội gây khó khăn cho Nhà nước trong việc phòng chống các tác hại của ma túy gây ra, dẫn đến những hệ lụy xấu cho xã hội. Xét anh C đã thành khẩn khai báo, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Về nhân thân, anh C có một tiền án về tội “Giết người” nhưng vẫn không chịu tu dưỡng, rèn luyện mà lại sa vào con đường nghiện ma túy. Do đó Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh S đề nghị Tòa án nhân dân huyện T xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S đối với anh C, để được cai nghiện bắt buộc, với thời gian là 24 tháng theo quy định tại Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ.
Theo kết quả xác minh tại Công an xã V thì anh Vưu Đức C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh S nhưng anh C không có sinh sống tại địa chỉ này mà thường xuyên tụ tập với các đối tượng sử dụng ma túy tại căn nhà bỏ hoang ở ấp T, xã L, huyện T, tỉnh S. Công an xã T, huyện T, tỉnh S xác định anh Vưu Đức C không có đăng ký hộ khẩu thường trú, đăng ký tạm trú tại xã T. Hiện nay, anh Vưu Đức C sống lang thang trên địa bàn xã T. Do đó hồ sơ xác định anh Vưu Đức C không có nơi cư trú ổn định là có căn cứ.
Xét hành vi vi phạm của anh Vưu Đức C thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013; Điều 95 và Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, nên đề nghị của Phòng Lao động –Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh S và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T là có căn cứ nên Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S. Địa chỉ: Số x đường H, khóm y, phường z, thành phố S, tỉnh S đối với anh Vưu Đức C, sinh năm 1996.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh S phối hợp với Công an huyện T, tỉnh S đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh S (Phòng KTNV&THA); - Anh Vưu Đức C; - Trưởng Công an huyện T; - Trưởng Phòng LĐTB &XH huyện T; - UBND xã T, huyện T; - VKSND huyện T; - UBND xã V, huyện T; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đặng Thị Ngọc Trân |