- Tranh chấp gì? "Quyết định ADBP xử lý hành chính - người bị đề nghị Y T Mlô"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị anh Y T M.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11/QĐ-TA | Krông Búk, ngày 31 tháng 5 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Vân.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Đạt.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 12/2024/QĐ-TA ngày 24 tháng 5 năm 2024, đối với người bị đề nghị:
Họ và tên: Y T M; sinh năm 2002; số căn cước công dân: 066202006796, do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 04/5/2023; Dân tộc: Êđê; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Buôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; con ông Y N M và bà H W M; Tiền án, tiền sự: Không.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Kim B, chức vụ: Chuyên viên – Là đại diện theo ủy quyền của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện K.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk: Ông Y Đ Kpă - chức vụ: Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 30/4/2024, anh Y T M đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an xã C, huyện K lập biên bản vi phạm về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy và Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể, cùng ngày 02/5/2024 của Trung tâm y tế huyện K đối với anh Y T M, đã kết luận: Test Morphin: Dương tính, nghiện ma túy: Morphin.
Ý kiến của đại diện Cơ quan đề nghị: Người bị đề nghị có nơi cư trú ổn định, sử dụng ma túy từ tháng 10 năm 2022, căn cứ kết quả xác định tình trạng nghiện của Trung tâm y tế huyện K, đã kết luận anh Y T M nghiện chất ma tuý và anh Y T đã được Ủy ban nhân dân xã C yêu cầu đăng ký và thực hiện cai nghiện ma tuý tự nguyện nhưng anh Y T không đăng ký, không thực hiện cai nghiện tự nguyện, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên thuộc trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020, đề nghị Toà án nhân dân huyện Krông Búk áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa anh Y T vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K đề nghị áp dụng biện pháp biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị là có căn cứ, hồ sơ đầy đủ, đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Tòa án chấp nhận, thời hạn cai nghiện bắt buộc đề nghị áp dụng từ 20 đến 24 tháng.
Tại bản tường trình, biên bản ghi lời khai, biên bản làm việc và tại phiên họp người bị đề nghị đã trình bày: Bản thân nghiện ma túy từ tháng 10 năm 2022, lần gần nhất sử dụng ma túy là ngày 30/4/2024, loại ma túy sử dụng là Heroine, một ngày sử dụng một lần, hình thức sử dụng là tiêm, chích vào cơ thể. Bản thân nhận thấy hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân xã C yêu cầu nhưng không đăng ký, không thực hiện và không tham gia cai nghiện tự nguyện vì bản thân biết sẽ không thể cai nghiện thành công, anh Y T nhờ các cấp giúp đỡ đưa anh vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc để có thể cai nghiện thành công.
XÉT THẤY:
Người bị đề nghị anh Y T đã sử dụng ma túy từ tháng 10 năm 2022, ngày 30/4/2024 là lần gần nhất có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị lập biên bản vi phạm về việc sử dụng trái phép chất ma túy.
Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K đã đầy đủ, đúng quy định tại Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020. Mặc dù đã được Ủy ban nhân dân xã C yêu cầu nhưng anh Y T không đăng ký, không thực hiện cai nghiện tự nguyện, nên đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy và khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020, để đảm bảo việc chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Y T là có căn cứ, cần chấp nhận. Anh Y T đã tự nguyện khai báo, nên cần xem xét giảm một phần thời hạn cai nghiện bắt buộc là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 105, Điều 106 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy; Các Điều 40, 41, 42 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Các Điều 21, 23, 24, 30, 31, 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022, về trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biên pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị anh Y T M.
Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk tại xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 tháng (hai mươi tháng), kể từ ngày người bị đề nghị anh Y T M được giao cho Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị:
Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định; Thời hạn kiến nghị của cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K có trách phiệm phối hợp với Công an huyện K đưa người phải chấp hành Quyết định vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Phòng LĐ - TB & XH huyện K - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - UBND, CA xã C; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ, Vp. | THẨM PHÁN (Đã ký, đóng dấu) Hoàng Văn Vân |