- Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Minh H.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11/QĐ-TA | G, ngày 02 tháng 10 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH GIA LAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Võ Văn Quảng.
2. Thư ký phiên họp: Ông Vương Tấn Lập.
Ngày 02 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 11/QĐ-TA ngày 24 tháng 9 năm 2018 đối với:
Họ và tên: Trần Minh H; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 26 tháng 6 năm 1995.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 8/12.
Nguyên quán: Bình Định.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 15, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.
Chỗ ở hiện nay: Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện Ma túy tỉnh Gia Lai.
Nghề nghiệp: Không ổn định; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Con ông Trần Ngọc A và bà Phạm Thị H1.
Vắng mặt tại phiên họp, có đơn xin vắng mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Văn T – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G, tỉnh Gia Lai.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Minh H thể hiện: H bắt đầu sử dụng chất ma túy từ tháng 10 năm 2016, lần gần nhất H sử dụng ma túy là vào ngày 26 tháng 8 năm 2018, cách thức sử dụng ma túy của H là mua ma túy đá dùng lửa hơ và hút khói vào miệng.
Ngày 28 tháng 8 năm 2018, H bị Công an xã O, huyện G lập Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại làng D, xã O, huyện G. Tại Phiếu xét nghiệm và Phiếu trả lời kết quả của Trạm y tế xã O đã xác định H dương tính với chất ma túy Methamphetamin (ma tuý đá). Qua xác minh H không có nơi cư trú ổn định.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G đề nghị Tòa án nhân dân huyện G xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H với thời hạn 18 tháng.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 30/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tuy nhiên còn một số vi phạm về thời hạn. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện G xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H với thời hạn 18 tháng.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
Trần Minh H là người nghiện ma túy, đã trên 18 tuổi và không có nơi cư trú ổn định nên là đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và quyết định giao Trần Minh H cho Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện Ma túy tỉnh Gia Lai quản lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và điểm b khoản 2 Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
Hồ sơ đã được Trưởng phòng Tư pháp huyện G kiểm tra và xác định hồ sơ bảo đảm tính pháp lý theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G, tỉnh Gia Lai về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Minh H là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc: Xét thấy trong quá trình lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Trần Minh H đã tự nguyện khai báo về hành vi sử dụng chất ma túy của mình và trình bày nguyện vọng được đi cai nghiện bắt buộc vì vậy Tòa án sẽ áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính để giảm thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc cho Trần Minh H.
Căn cứ vào các Điều 7, khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 107, Điều 108 và Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ vào các Điều 3, Điều 22, Điều 23, Điều 24, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ vào các Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 13 và Điều 15 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Minh H.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện Ma túy tỉnh Gia Lai (ngày 28 tháng 8 năm 2018).
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện G có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án. Trần Minh H có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện G, tỉnh Gia Lai; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G, tỉnh Gia Lai.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - Công an huyện G; - Phòng LĐ-TB&XH huyện G; - Ủy ban nhân dân xã O; - Viện kiểm sát nhân dân huyện G; - Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện Ma túy tỉnh Gia Lai; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Võ Văn Quảng |