- Tranh chấp gì? "QĐ áp dụng biện pháp xư lý hành chính"
- Tòa quyết gì? 1 - Áp dụng điểm b Điều 10; Điều 95; Điều 96; Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN ND HUYỆN H TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11/QĐ-TA | H, ngày 10 tháng 8 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Công Hoan;
2. Thư ký phiên họp: Ông Ngô Thanh Thuần;
Ngày 10 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 12/QĐ-TA ngày 03 tháng 8 năm 2018 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Văn N
Giới tính: Nam
Sinh năm 1973;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12.
Nguyên quán: Thôn X B, xã X C, huyện H, tỉnh Bắc Giang;
Hộ khẩu thường trú: Thôn X B, xã X C, huyện H, tỉnh Bắc Giang
Chỗ ở: Thôn X B, xã X C, huyện H, tỉnh Bắc Giang;
Tiền án: Không có; Tiền sự : Bị áp dụng biện pháp giáo dục tại, xã phường theo quyết định số 17/QĐ-UBND ngày 02/3/2018 của Chủ tịch UBND xã X C, huyện H, tỉnh Bắc Giang;
Nhân thân: 01 lần đưa vào cơ sở cai nghiện (ma túy) bắt buộc 02 năm từ ngày 18/7/2012 đến ngày 18/7/2014;
Con ông: Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị D;
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Văn Vỹ – Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh Bắc Giang;
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang: Ông Ong Văn Chúc – Kiểm sát viên;
3. Đại diện UBND xã X C, huyện H, tỉnh Bắc Giang: Ông La Văn C – Trưởng Công an xã X C -Là người đại diện theo ủy quyền;
4. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:
- Anh Nguyễn Văn N - sinh năm 1973 (có mặt);
Nơi cư trú: Thôn X B, xã X C, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
4. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị: không có;
5. Những người khác: không có;
NHẬN THẤY:
Qua nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Văn N. Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, đại diện UBND xã X C, người bị đề nghị, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp như sau:
Theo quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn biện pháp quản lý tại gia đình số 17/QĐ-UBND ngày 02 tháng 3 năm 2018 của Chủ tịch UBND xã X C, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Đối với anh Nguyễn Văn N có lý lịch như ở trên, vì đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị bắt quả tang ngày 23 tháng 02 năm 2018. Trước ngày bị bắt về hành vi này, anh N là người nghiện ma túy từ năm 2012 và đã 01 lần phải cai nghiện tại Trung Tâm cai nghiện của tỉnh Bắc Giang từ năm 2012 đến năm 2014. Sau khi cai nghiện về anh N vẫn chưa bỏ được việc sử dụng ma túy trái phép và đã sử dụng lại, ngày 23/02/2018 đã bị Công an xã X C bắt quả tang về hành vi này, vì vậy Chủ tịch UBND xã X C đã có quyết định ở trên đối với anh Nguyễn Văn N, thời hạn áp dụng biện pháp là 03 tháng, từ ngày 02/3/2018 đến ngày 02/6/2018. Sau khi chấp hành Quyết định trên, anh N vẫn sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an xã X C bắt, bị lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Theo biên bản xét nghiệm chất Ma túy ngày 05/7/2018; Phiếu trả kết quả cùng ngày của Trung tâm y tế huyện H, thì anh Nguyễn Văn N đã có kết quả dương tính với chất gây nghiện Mosphine.
Chủ tịch UBND xã X C, huyện H lập hồ sơ đề nghị cơ quan có Thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh N, anh N đã nhận được thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị trên và không có ý kiến gì.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao đông –Thương binh và Xã hội huyện H đã có ý kiến về hành vi sử dụng ma túy của anh Nguyễn Văn N, lý lịch của anh N về việc sử dụng ma túy đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như hồ sơ đã lập, đồng thời đề nghị Tòa án căn cứ quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính để đưa anh N vào cở sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 tháng (Hai bốn tháng).
Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của UBND xã X C, huyện H cũng nhất trí với ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện H, đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Văn N với thời hạn 24 (Hai bốn) tháng.
Ý kiến của người bị đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Tại bản tường trình ngày 05/7/2018; Lời trình bày của anh N tại phiên họp, anh N thừa nhận bị nghiện ma túy và vẫn sử dụng 01 lần ma túy mỗi ngày. Trước đó Anh đã 01 lần đi cai nghiện bắt buộc và đã được giáo dục tại xã, hiện tại Anh vẫn chưa bỏ được việc sử dụng chất ma túy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia phiên họp trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Văn N là đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ Điều 95; Điều 96 Khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Khoản 1, 3 Pháp lênh số 09/2014/UBTVQH14 ngày 20/01/2014; Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013:
Đề nghị Tòa án nhân dân huyện H áp dụng biện xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Văn N từ 18 tháng đến 24 (Hai bốn)tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đề nghị tuyên quyền khiếu nại, kiến nghị, quyền kháng nghị theo quy định.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 13/2018/TLST- CNBB ngày 31/7/2017; về việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Văn N và ý kiến của những người tham gia phiên họp.
XÉT THẤY:
Anh Nguyễn Văn N là người luôn có hành vi, vi phạm pháp luật; Thể hiện qua việc sử dụng trái phép chất ma túy, đã được áp dụng biện pháp xử lý hành chính 01 lần là đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, sau khi cai nghiện về, anh N vẫn sử dụng trái phép chất ma túy, đã bi áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, được các tổ chức xã hội tại địa phương và gia đình giám sát, giáo dục. Nhưng anh N không có sự tiến bộ, không cắt cơn nghiện, không tự từ bỏ việc sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của Nguyễn Văn N đã làm ảnh hưởng đến an N, trật tự xã hội tại địa phương, nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Văn N, nhằm chữa bệnh, tạo điều kiện rèn luyện về thể lực và có điều kiện tốt về sức khỏe cho anh N, để anh N cắt cơn và từ bỏ được việc nghiện chất ma túy sau khi cai nghiện. Mặt khác để ổn định tình hình an N, trật tự tại địa phương . Qua đó thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước đối với người có hành vi, vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc đưa anh N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp quy định tại các Điều 95; Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng: Anh N đã bị 01 lần bị xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái pháp chất ma túy, bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Tình tiết giảm nhẹ: không có;
Xét ý kiến của của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại phiên họp là có căn cứ. Ý kiến đề nghị đưa anh Nguyễn Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1 - Áp dụng điểm b Điều 10; Điều 95; Điều 96; Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính;
Điều 3; Điều 22; Điều 23 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp hành chính tại Tòa án.
Buộc anh Nguyễn Văn N phải chấp hành cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện với thời gian 24 (hai bốn) tháng, tính từ ngày bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện.
1 - Anh Nguyễn Văn N có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
- Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện H có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
3 - Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghịm à không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
4 - Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện H; Công an huyện H, tỉnh Bắc Giang. Có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Ông Trưởng CA huyện H; - Ông Trưởng Phòng LĐTB và XH huyện H; - VKSND huyện H; - Công an huyện H; - Phòng LĐTB và XH huyện H; - Anh Nguyễn Văn N; - UBND xã Xuân Cẩm, huyện H; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Công Hoan |