vanban.org

Quyết định 11/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với:

Vi K. Sinh ngày 02 tháng 7 năm 1977. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Không. Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, địa chỉ: Km 10, xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết đinh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với:
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHI LĂNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/QĐ-TAChi Lăng, ngày 30 tháng 9 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hoàng Hải Đoàn.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Minh.

Ngày 30 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 11/QĐ-TA ngày 25 tháng 9 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Vi K. Giới tính: Nam. Sinh ngày 02 tháng 7 năm 1977.

Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 01/12.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Nghề nghiệp: Không. Tiền án: Không. Tiền sự: Không.

Con ông Vi V và con bà Nguyễn T.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn: Bà Lê Thanh Hà – Phó trưởng phòng.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn: Bà Hoàng Thị Loan - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Vi K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên Công an thị trấn C, huyện C đã lập hồ sơ đề nghị Ủy ban nhân dân thị trấn C đưa đối tượng Vi K vào áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Ngày 25 tháng 5 năm 2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định số 67a/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Vi K thời hạn là 03 tháng. Ngày 26 tháng 8 năm 2019 Vi K đã chấp hành xong biện pháp trên, theo giấy chứng nhận số 01/GCN-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Sau khi chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại cấp xã Vi K tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi này đã bị cơ quan chức năng lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 28 Luật phòng chống ma túy; lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị trình bày ý kiến: Đối tượng Vi K đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường nhưng không tiến bộ, vẫn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Vi K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi K là đảm bảo. Trình tự, thủ tục tại phiên họp được thực hiện đầy đủ. Người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp chấp hành đúng quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 96, 103, 104, 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 9 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2016 và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Tòa án giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi K, với thời hạn 20 tháng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi K được thực hiện như sau:

Đối với các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính: Hồ sơ đã có bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị đầy đủ theo quy định; có Quyết định số 67a/QĐ-UBND ngày 26 tháng 5 năm 2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn C về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường, thị trấn đối với Vi K phù hợp theo quy định tại Điều 98 Luật xử lý vi phạm hành chính; trong hồ sơ có đầy đủ tài liệu chứng minh những hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng Vi K, thể hiện rõ hành vi vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp theo quy định tại Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính; hồ sơ đã có bản tường trình của người vi phạm Vi K.

Đối với thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm. Tính từ ngày 28 tháng 8 năm 2019 là ngày Vi K thực hiện hành vi vi phạm lần cuối thì thời hiệu vẫn đảm bảo phù hợp theo quy định.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là nam giới, sinh ngày 02 tháng 7 năm 1977, không có căn cứ chứng minh bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính. Nên đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Đối với thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là đúng theo quy định của pháp luật: Theo khoản 2 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, đối tượng có nơi thường trú ổn định tại thị trấn C, huyện C nên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn C và Công an thị trấn C có trách nhiệm thu thập tài liệu lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi K. Ngày 20 tháng 9 năm 2019 Phòng Tư pháp huyện C có thông báo số 15/TB-PTP về việc kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi K đủ điều kiện theo quy định.

Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi K là đầy đủ về trình tự, thủ tục, đảm bảo hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng không có. Về tình tiết giảm nhẹ có một tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét về nhân thân Vi K là người đã trưởng thành, nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mắc nghiện từ năm 2006 và bị lệ thuộc vào chất ma túy. Vi K nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý hành chính nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi K là cần thiết.

Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ, các ý kiến tại phiên họp, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người bị đề nghị. Xét thấy cần đưa Vi K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, đảm bảo có thời gian hợp lý để lao động, học tập và cai nghiện ma túy dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc. Có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục Vi K trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 105; Điều 106 và Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Áp dụng Điều 4; Điều 8; Điều 9; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ. Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ. Điều 1 Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính Phủ. Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07/02/2018 của Bộ Công an;

Áp dụng Điều 19; Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30; Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với:

Vi K. Sinh ngày 02 tháng 7 năm 1977. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Không.

Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, địa chỉ: Km 10, xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày niêm yết.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện C chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân Tộc huyện C đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ