vanban.org

Quyết định 11/2026/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T:

Tuyên bố: Anh Nguyễn Thế A, sinh ngày 28/7/1993, Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 27/6/2021; Nơi cư trú cuối cùng: Tổ A B, phường C, tỉnh Lào Cai mất tích. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố mất tích Nguyễn Thế A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/2026/QĐST-VDSLào Cai, ngày 01 tháng 7 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lý Thị Minh Yên

Thư ký phiên họp: Ông Phùng Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Hồng Liễu - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 7 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2026/TLST-VDS ngày 30 tháng 01 năm 2026 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 11/2026/QĐST-VDS ngày 23 tháng 6 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 22/01/1997, Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 27/6/2021;

Địa chỉ: Tổ A B, phường C, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Anh Nguyễn Thế A, sinh ngày 28/7/1993, Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 27/6/2021; Nơi cư trú cuối cùng: Tổ A B, phường C, tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai, chị Nguyễn Thị T trình bày như sau: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thế A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 21/3/2017. Sau kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc và có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo H, sinh ngày 13/10/2017. Đến ngày 29/9/2022, anh Nguyễn Thế A tự ý bỏ nhà đi không có tin tức gì. Không ai biết anh Thế A ở đâu hoặc có thông tin gì về anh Thế A. Sau khi anh Nguyễn Thế A bỏ nhà đi, gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có kết quả.

Chị Nguyễn Thị T cũng đã đăng tải thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm nhưng vẫn không rõ tung tích hay nhận được bất kỳ thông tin nào của anh Nguyễn Thế A. Đến nay anh Nguyễn Thế A đã biệt tích hơn 03 năm.

Để ổn định cuộc sống, chị Nguyễn Thị T đã làm đơn yêu cầu đề nghị Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai tuyên bố anh Nguyễn Thế A mất tích.

Tại phiên họp Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên họp, việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu trong quá trình giải quyết việc dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm mở phiên họp đảm bảo. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai áp dụng Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149, khoản 2 Điều 367, Điều 389 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T, tuyên bố anh Nguyễn Thế A mất tích; Tuyên lệ phí sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T có đơn đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 6

- Lào Cai giải quyết việc dân sự yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Thế A mất tích. Theo quy định tại khoản 2 điểm a Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai.

Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị T:

Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thế A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 21/3/2017. Sau kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc và có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo H, sinh ngày 13/10/2017. Đến ngày 29/9/2022, anh Nguyễn Thế A tự ý bỏ nhà đi không có tin tức gì.

Sau khi anh Nguyễn Thế A mất tích, chị T và gia đình đã tìm kiếm nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị T cũng đã đăng tải thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm nhưng vẫn không rõ tung tích hay nhận được bất kỳ thông tin nào của anh Nguyễn Thế A. Tại đơn xin xác nhận 21/01/2026 chính quyền địa phương xác nhận anh Nguyễn Thế A không có mặt tại địa phương theo đơn trình bày của chị Nguyễn Thị T là đúng. Tại đơn đề nghị ngày 20/01/2026 của ông Nguyễn Tiến H1 là bố đẻ anh Nguyễn Thế A và đơn đề nghị ngày 25/6/2026 của bà Đào Thị D là mẹ đẻ anh Nguyễn Thế A đều xác nhận anh Nguyễn Thế A đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 9/2022 đến nay không có tin tức gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Sau khi thụ lý việc dân sự Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 03/2026/QĐ-TA ngày 12/02/2026. Căn cứ vào quyết định của Tòa án, chị Nguyễn Thị T đã nhắn tin tìm kiếm anh Nguyễn Thế A trên B ba số liên tiếp 17+18, 19, và 20, lần lượt vào các ngày 27/02/2026, 06/3/2026 và 11/3/2026; nhắn tin tìm kiếm trên Đài tiếng nói Việt Nam – Ban đối ngoại (VOV5) ba số liên tiếp vào các ngày 23, 24 và 25/02/2026 theo quy định tại các điều 384; 385 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Kể từ ngày phát thông báo tìm kiếm anh Nguyễn Thế A lần đầu tiên 23/02/2026 đến nay, đã hết thời hạn 04 tháng nhưng chị Nguyễn Thị T và gia đình vẫn không có tin tức gì của anh Nguyễn Thế A.

Xét thấy anh Nguyễn Thế A đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc anh Thế A còn sống hay đã chết. Chị Nguyễn Thị T là vợ của anh Nguyễn Thế A đã áp dụng đầy đủ các biện pháp tìm kiếm mà vẫn không có tin tức gì. Vì vậy Tòa án xem xét chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị T về việc yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Thế A mất tích là có phù hợp theo quy định tại khoản 1 điều 68 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng khác: Chị Nguyễn Thị T phải chịu chi phí đăng phát thông báo tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật. Xác nhận chị T đã nộp đủ chi phí.

Đối với đề nghị của Kiểm sát viên: xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng pháp luật và quan điểm giải quyết việc dân sự là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T:

Tuyên bố: Anh Nguyễn Thế A, sinh ngày 28/7/1993, Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 27/6/2021; Nơi cư trú cuối cùng: Tổ A B, phường C, tỉnh Lào Cai mất tích.

2. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số: 0000382 ngày 30/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.

Cỡ chữ