vanban.org

Quyết định 11/2025/QĐ-TA

TAND huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 11/06/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn K; Sinh ngày 01 tháng 8 năm 1983; Trú tại: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Địa điểm cơ sở cai nghiện: Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Bắc Kạn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Hoàng Văn K"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn K; Sinh ngày 01 tháng 8 năm 1983; Trú tại: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/2025/QĐ-TAN, ngày 11 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Hoàng Út Lệ

2. Thư ký phiên họp: Bà Nông Thùy Chung - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 11/2025/QĐ-TA ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Hoàng Văn K (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/8/1983; Số định danh cá nhân/CMND/CCCD số: 0060830……..; Ngày cấp: 09/5/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát về QLHC về TTXH; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Nguyên quán: Xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Hoàng Văn K1 (đã chết) và bà Đồng Thị N, sinh năm 1939.

Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Công an xã B: Ông Doanh Sơn T - Trưởng Công an xã T, tỉnh Bắc Kạn.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn: Bà Tô Thị T - Kiểm sát viên.

3. Những người khác tham gia phiên họp: Không có.

NHẬN THẤY:

Tại biên bản ghi lời khai các ngày 04/4/2025, 07/5/2025, các bản tường trình cùng ngày của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã xác định: Hoàng Văn K có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn sử dụng ma túy, loại Heroine. Bản thân sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2000, hình thức sử dụng là chích. Tần suất sử dụng 01 lần/ngày. Lần cuối sử dụng ma túy là ngày 06/5/2025.

Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 12/5/2025 của Trung tâm Y tế huyện N, tỉnh Bắc Kạn xác định Hoàng Văn K: Nghiện ma túy.

Cùng ngày, Công an xã T đã tiến hành mời Hoàng Văn K đến trụ sở Công an xã để làm việc, lập biên bản, giải thích rõ theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của cơ quan có thẩm quyền, anh K phải đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, nếu không thực hiện Công an xã sẽ lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, đến ngày 17/5/2025, anh K vẫn không đăng ký.

Hành vi của Hoàng Văn K đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021:

“Điều 32. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chínhthuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện;

…”

Ngày 26/5/2025, Công an xã T lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Hoàng Văn K. Sau đó, Công an xã T ra thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn K, K đã đọc hồ sơ theo quy định và không có ý kiến gì.

Tại phiên họp: Đại diện Công an xã T đề nghị Tòa án nhân dân huyện N áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Kạn đối với Hoàng Văn K.

Người bị đề nghị Hoàng Văn K vắng mặt tại phiên họp.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu quan điểm đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Đã thực hiện đúng trình tự quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, đồng thời nêu quan điểm có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn K.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đề nghị và ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, lập hồ sơ và Kiểm sát viên tham gia phiên họp,

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân, Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn K thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

Về thời hiệu: Ngày 12/5/2025, tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy cho thấy Hoàng Văn K nghiện ma túy. Cùng ngày, Công an xã lập biên bản làm việc giải thích với Hoàng Văn K việc phải đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, nếu người nghiện không đăng ký sẽ bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng K không đăng ký. Do đó, công an xã đã lập biên bản vi phạm đối với Hoàng Văn K vào ngày 26/5/2025. Như vậy đã thực hiện đúng trình tự và trong thời hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý.

Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý và Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Văn K là trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước ta, nên việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Hoàng Văn K là cần thiết.

Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Hoàng Văn K thấy: Hoàng Văn K có nơi cư trú ổn định, lai lịch rõ ràng. Trong quá trình lập hồ sơ, K đã tự nguyện tường trình hành vi vi phạm, thành thật hối lỗi, giúp cơ quan chức năng phát hiện sớm hành vi vi phạm, do đó K được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Hoàng Văn K chưa có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy, có đủ căn cứ để xác định Hoàng Văn K thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc “Người nghiện ma túy các chất dạng thuốc phiện không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện” theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma tuý năm 2021. Hoàng Văn K là đối tượng nghiện ma túy lâu năm, tần suất sử dụng cao, do đó cần xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian phù hợp để đảm bảo việc cai nghiện đạt được hiệu quả.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của Hoàng Văn K, Toà án nhân dân huyện N xét thấy cần thiết phải đưa Hoàng Văn K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian đủ để Hoàng Văn K có điều kiện lao động, học tập trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 5, khoản 2 Điều 9; Điều 95, 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma tuý năm 2021; Điều 3, Điều 12, Điều 13, Điều 17, Điều 23, Điều 24, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý; Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn K; Sinh ngày 01 tháng 8 năm 1983; Trú tại: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Địa điểm cơ sở cai nghiện: Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Bắc Kạn.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Trưởng Công an xã T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện N có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn thi hành quyết định này.

Cỡ chữ