vanban.org

Quyết định 11/2025/QĐ-TA

TAND huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 10/04/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đức T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đỗ Đức T có quyền khiếu nại quyết định trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Đỗ Đức T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đức T.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN
TỈNH YÊN BÁI
Số: 11/2025/QĐ-TA
Lục Yên, ngày 10 tháng 4 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN -TỈNH YÊN BÁI.

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Anh

2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Diệp Linh.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 11/2025/QĐ-TA ngày 02 tháng 4 năm 2025 đối với:

Đỗ Đức T: giới tính: Nam; sinh ngày 04-7-1992

Số CCCD: 015092000594; Ngày cấp: 03-4-2021; nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH, Bộ công an (Đỗ Đức T không xuất trình được căn cước công dân)

Dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12

Nguyên quán: Xã M, huyện L, tỉnh Y

HKTT: Thôn 7, xã M, huyện L, tỉnh Y.

Chỗ ở: Thôn 7, xã M, huyện L, tỉnh Y.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Tiền án: Không

Tiền sự: Không.

Con ông Đỗ Ngọc T1 (đã chết) và bà Hoàng Thị P

Đỗ Đức T- Có mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Cổ Bính Huỳnh- Phó trưởng Công an xã Mường Lai, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái

2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái: Bà Hoàng Thị Cẩm Tú- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Đỗ Đức T là người nghiện chất ma túy từ tháng 5 năm 2024. Ngày 04-02-2025 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Y ra quyết định số 06/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Đỗ Đức T. Trong thời gian chấp hành quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy Đỗ Đức T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức hít Hê rô in vào cơ thể. Ngày 11-3-2025 Công an xã M phối hợp với Trung tâm y tế huyện L xét nghiệm tình trạng nghiện ma túy đối với Đỗ Đức T. Kết quả xét nghiệm của Trung tâm y tế huyện L ngày 12-3-2023 xác định Đỗ Đức T là người nghiện chất ma túy. Ngày 17-3-2025 Công an xã M thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện đối với Đỗ Đức T. Đỗ Đức T không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Do đó Đỗ Đức T thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy. Ngày 25-3-2025 Công an xã M tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa Đỗ Đức T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Tại phiên họp đại diện Công an xã Mường Lai phát biểu ý kiến: Đỗ Đức T là đối tượng nghiện ma túy. Chính quyền địa phương đã ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi cư trú đối với Đỗ Đức T, nhưng Đỗ Đức T không từ bỏ được ma túy. Như vậy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Đỗ Đức T đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa Đỗ Đức T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 18 đến 24 tháng.

Tại phiên họp người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Đỗ Đức T trình bày: Từ năm 2024 Đỗ Đức T nghiện chất ma túy, đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy. Nay T nhận thức được tác hại của ma túy, đề nghị được chấp hành áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ở mức thấp để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên phát biểu ý kiến:

- Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đúng theo quy định tại Điều 9, 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Điều 28, 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

- Qúa trình thụ lý hồ sơ và tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính Thẩm phán, thư ký, Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đã thực hiện đúng quy trình, thủ tục, thành phần tham gia phiên họp.

- Có đủ Căn cứ để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đức T. Đề nghị căn cứ quy định tại Điều 9, 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Điều 28, 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 và Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 7, Điều 8 thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT- BCA-VKSNDTC- TANDTC ngày 01-3-2025. Chấp nhận đề nghị của cơ quan đề nghị về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đức T với thời gian từ 18 đến 24 tháng.

XÉT THẤY

Hồ sơ được lập đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 103, Điều 104 luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ xung năm 2020.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ: Đã xác định Đỗ Đức T là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính. Do nghiện chất ma túy, T đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy. Mặc dù nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng T vẫn cố tình thực hiện với mục đích để thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân. Hành vi của T đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Xét về nhân thân: Đỗ Đức T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính. Trong quá trình lập hồ sơ cũng như tại phiên họp Đỗ Đức T “Tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi”. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính được xem xét khi quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Qua nội dung phát biểu của Công an xã Mường Lai; ý kiến của Kiểm sát viên, xét thấy: Việc các cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Đỗ Đức T là cần thiết, phù hợp với quy định tại Điều 95, 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma túy giúp Đỗ Đức T từ bỏ được ma túy, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Căn cứ khoản 2 Điều 9, khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 điều 105, điểm b khoản 1 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; khoản 1 Điều 20, 24, 25, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 7, Điều 8 thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT- BCA- VKSNDTC- TANDTC ngày 01-3-2025: Có đủ căn cứ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đức T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đức T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Đỗ Đức T có quyền khiếu nại quyết định trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện Kiểm sát nhân dân huyện có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã M có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ