vanban.org

Quyết định 11/2022/QĐ-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn T.

Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị MH, sinh năm: 1974. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: số 69, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đ bị mất tích. Về chi phí tố tụng: Ông Phạm Văn T phải chịu 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí đăng thông báo trên báo Công lý và phát sóng thông báo tìm kiếm người bị yêu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "VDS.T-MH"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẤP VÒ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/2022/QĐST-DSLấp Vò, ngày 17 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP.

T phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phan Văn Nội.

Thư ký phiên họp: Ông Bùi Lê Phú Quý - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lấp Vò mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 13/2022/TLST-VDS ngày 10 tháng 01 năm 2022 về việc “yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 11/2022/QĐST-VDS ngày 07 tháng 11 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1971; địa chỉ: số 69, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đ

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị MH, sinh năm: 1974. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: số 69, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đ

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 01 tháng 12 năm 2021 và tại phiên họp hôm nay, ông Phạm Văn T trình bày: Ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị MH tổ chức đám cưới vào năm 1994, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Khánh Trung, huyện Lấp Vò và được Uỷ ban cấp giấy chứng nhận kết hôn. Tuy nhiên, hiện nay giấy chứng nhận kết hôn đã bị thất lạc. Vợ chồng sống chung đến tháng 3 năm 2016 thì bà MH gây ra nợ nần nên đã bỏ nhà đi ông T và gia đình hai bên đã tổ chức tìm kiếm nhiều lần nhưng không biết đi đâu và đến nay cũng không biết được tung tích của bà Hai hiện nay ở đâu, còn sống hay đã chết. Nay, để ổn định cuộc sống nên ông T yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự tuyên bố bà Nguyễn Thị MH, sinh năm: 1974. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: số 69, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đ bị mất tích để ông T làm thủ tục ly hôn. Quá trình sống chung giữa ông T và bà MH không có tài sản chung nên ông T không yêu cầu Toà án áp dụng việc quản lý tài sản của bà Nguyễn Thị MH.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Từ khi thụ lý đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự cũng như tại phiên họp Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Người yêu cầu cũng chấp hành pháp luật đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự cũng như lời trình bày của đương sự tại phiên họp, đủ cơ sở xác định bà Nguyễn Thị MH, sinh năm: 1974. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích tại số 69, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đ từ tháng 3/2016 đã bỏ địa phương đi đến nay mặc dù ông T đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà MH còn sống hay đã chết. Do đó, đề nghị Toà án nhân dân huyện Lấp Vò áp dụng điều 68 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn T, tuyên bố bà Nguyễn Thị MH, sinh năm: 1974. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích tại số 69, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đ bị mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, nhận định:

Về tố tụng: Ông Phạm Văn T yêu cầu Toà án tuyên bố bà Nguyễn Thị MH, sinh năm: 1974. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: số 69, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đ bị mất tích. Do đó, xác định loại việc dân sự Toà án thụ lý giải quyết là “Yêu cầu tuyên bố một người bị mất tích”. Nơi cư trú cuối cùng của bà MH tại huyện Lấp Vò nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Lấp Vò theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị MH tổ chức đám cưới vào năm 1994. Đến tháng 3/2016 bà Nguyễn Thị MH đã bỏ khỏi nơi cư trú cuối cùng tại số 69, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đ không biết đi đâu. Mặc dù, ông T và gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì về việc bà MH còn sống hay đã chết nên ông T yêu cầu tuyên bố bà MH bị mất tích.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Phạm Văn T, ngày 17 tháng 01 năm 2022 Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 01/2022/QĐ-TA đối với bà Nguyễn Thị MH. Thông báo nêu trên đã được đăng trên trang thông tin điện tử của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp vào ngày 10 tháng 02 năm 2022, cổng thông tin điện tử Đồng Tháp ngày 11/02/2022, Báo Công lý trong 03 số liên tiếp từ số 16, 17, 18 trong các ngày 25 tháng 02, ngày 01 và ngày 04 tháng 3 năm 2022 và được phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp kể từ ngày 07 tháng 7 đến ngày 09 tháng 7 năm 2022.

Đến nay, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà Nguyễn Thị MH còn sống hay đã chết. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn T về việc yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị MH, sinh năm: 1974. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: số 69, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đ bị mất tích.

Về áp dụng biện pháp quản lý tài sản của bà Nguyễn Thị MH: Tại phiên họp hôm nay ông Phạm Văn T xác định giữa ông T và bà MH không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của bà MH nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về chi phí tố tụng: Ông Phạm Văn T phải chịu 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí đăng thông báo trên báo Công lý và phát sóng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam. Ông T đã nộp và đã chi xong.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí ông T đã nộp theo biên lai số 0008509 ngày 10/01/202022 của Chi cục thi hành án huyện Lấp Vò.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò tại phiên họp là phù hợp, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các điều 149, 370, 371, 372, 387 và 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn T.

Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị MH, sinh năm: 1974. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: số 69, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đ bị mất tích.

2. Về chi phí tố tụng: Ông Phạm Văn T phải chịu 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí đăng thông báo trên báo Công lý và phát sóng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam. Ông T đã nộp và đã chi xong.

3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí ông T đã nộp theo biên lai số 0008509 ngày 10/01/2022 của Chi cục thi hành án huyện Lấp Vò.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định tại khoản 2 Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ