- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11/2020/QĐST – KDTM | Văn Lâm, ngày 08 tháng 9 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào biên bản hòa giải thành ngày 31 tháng 8 năm 2020 về việc các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 06/2020/TLST – KDTM ngày 08 tháng 6 năm 2020, về việc Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
XÉT THẤY:
Các thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hòa giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện, nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (sau đây viết tắt là Ngân hàng).
Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Mai H – Giám đốc chi nhánh B, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
Văn bản ủy quyền số 804/QĐ-BIDV, ngày 22/8/2019.
Người được ủy quyền lại: Ông Đỗ Văn S – Giám đốc phòng giao dịch V, chi nhánh B, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
Văn bản ủy quyền số 101/UQ-BIDV.BHY ngày 02/3/2020.
Địa chỉ: Tháp B, số 3 H quận H, Thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Văn S, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Chị Đặng Thị Ng, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
2. Sự thoả thuận của các đương sự như sau:
Bà Nguyễn Thị Ch trả nợ cho Ngân hàng, cụ thể:
Trả số nợ gốc là 139.000.000 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu đồng).
Trả số nợ lãi tính đến ngày 10/3/2020 gồm lãi suất trong hạn là 186.583.875 đồng (Một trăm tám mươi sáu triệu năm trăm tám mươi ba nghìn tám trăm bẩy mươi năm đồng); lãi suất nợ quá hạn là 80.491.938 đồng (Tám mươi triệu, bốn trăm chín mươi mốt nghìn, chín trăm ba mươi tám đồng). Tổng cộng lãi là 267.075.813 đồng (Hai trăm sáu mươi bẩy triệu không trăm bẩy mươi năm nghìn tám trăm mười ba đồng).
Tổng cả gốc và lãi là 406.075.813 đồng (Bốn trăm linh sáu triệu, không trăm bẩy mươi năm nghìn, tám trăm mười ba đồng).
Kể từ ngày 11/3/2020 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Kế hoạch trả nợ:
Về trả nợ gốc: Tháng 9 năm 2020 trả là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).
Tháng 10 năm 2020 trả 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng), trong đó trả nợ gốc là 89.000.000 đồng (Tám mươi chín triệu đồng)_và trả nợ lãi là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
Ghi nhận bà Nguyễn Thị Ch đã nộp số tiền gốc là 39.000.000 đồng (Ba mươi chín triệu đồng).
Về trả nợ lãi: Tháng 11 năm 2020 trả 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).
Ghi nhận khi bà Nguyễn Thị Ch thanh toán đủ số tiền gốc và lãi theo đúng kế hoạch nêu trên, Ngân hàng sẽ trình cấp có thẩm quyền miễn giảm lãi, lãi phát sinh.
Trường hợp bà Nguyễn Thị Ch không thanh toán đúng kế hoạch nêu trên thì phải thanh toán đủ số nợ gốc, lãi, lãi phát sinh đến thời điểm thanh toán.
Nếu bà Nguyễn Thị Ch không thanh toán theo đúng kế hoạch trên thì Ngân hàng có quyền tự mình hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ, số tiền thu được từ tài sản thế chấp không đủ số tiền thanh toán thì bà Nguyễn Thị Ch có nghĩa vụ thanh toán tiếp cho Ngân hàng, số tiền từ xử lý tài sản thế chấp thừa sẽ trả lại bà Nguyễn Thị Ch. Tài sản thế chấp gồm quyền sử dụng đất diện tích 282 m2 gồm 150 m2 đất ở, 132 m2 đất trồng cây lâu năm khác cùng các tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, thửa đất số 48, tờ bản đồ số 16, tại thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/9/2007 ghi tên bà Nguyễn Thị Ch. Đối với 01 nhà tắm cũ là tài sản do vợ chồng anh Lê Văn S chị Đặng Thị Ng xây dựng, nên giá trị tài sản này sẽ được trả lại cho anh S chị Ng.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ch phải chịu 5.060.700 đồng (Năm triệu không trăm sáu mươi nghìn bẩy trăm đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Ngân hàng phải chịu 5.060.700 đồng (Năm triệu không trăm sáu mươi nghìn bẩy trăm đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Đối trừ với 10.120.000 đồng (Mười triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 437, ngày 08/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, trả lại Ngân hàng 5.059.300 đồng (Năm triệu không trăm năm mươi chín nghìn ba trăm đồng).
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Đỗ Văn Mƣời |