- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "“Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trần Văn T về việc yêu cầu tuyên bố bà Phạm Trần Thị Bội A mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11 /2020/QĐST - DS | Thanh Khê, ngày 18 tháng 11 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Dân
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Kim Ánh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên họp: Ông Lê Thanh Tráng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 91/2020/TLST - DS ngày 11 tháng 6 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 91/2020/QĐST - DS ngày 04 tháng 11 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Văn T, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ 38, phường T, quận T, thành phố Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Trần Thị Bội A, sinh năm 1979; Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 38, phường T, quận T, thành phố Đ.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu nộp đến Tòa án ngày 02 tháng 6 năm 2020 và tại phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, ông Trần Văn T, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ 38, phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng yêu cầu Tòa án tuyên bố vợ ông là bà Phạm Trần Thị Bội A, sinh năm 1979; Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 38, phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nhận định:
Trước khi đi đến hôn nhân, ông Trần Văn T và bà Phạm Trần Thị Bội A chung sống với nhau và đã sinh được một con chung là Trần Văn Nguyên, sinh ngày 06/8/2003. Ngày 28 tháng 6 năm 2004, ông T và bà A đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thanh Lộc Đán, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, nay là phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn, ông T và bà A sinh sống tại Tổ 38 ( Tổ 91cũ), phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Từ năm 2006, bà Phạm Trần Thị Bội A bỏ nhà đi khỏi địa phương cho đến nay ông Trần Văn T không rõ tin tức, không liên lạc được. Tổ trưởng dân phố 38 và Công an phường Thanh Khê Tây xác nhận bà Phạm Trần Thị Bội A có sinh sống tại tổ 38, phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê từ năm 2004 đến năm 2006, từ năm 2006 bà A đi khỏi địa phương hiện nay không rõ làm gì, ở đâu. Nay ông Trần Văn T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố bà Phạm Trần Thị Bội A mất tích.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã ra quyết định thông báo tìm kiếm đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là bà Phạm Trần Thị Bội A; đăng phát quyết định trên báo Nhân dân trong 03 số liên tiếp vào các ngày 04, 05, 06 tháng 7 năm 2020 và trên Đài truyền hình Việt Nam vào lúc 06 giờ 35 phút các ngày 03, 04, 05 tháng 7 năm 2020 theo quy định của pháp luật.
Từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên đến nay đã quá 04 tháng, nhưng bà Phạm Trần Thị Bội A vẫn không đến Tòa án quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng và không có tin tức xác thực về việc bà A còn sống hay đã chết. Vì vậy, cần áp dụng Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn T về việc yêu cầu tuyên bố bà Phạm Trần Thị Bội A mất tích cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên họp là có căn cứ.
Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự ông Trần Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 68 của Bộ luật dân sự; Điều 370 và 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trần Văn T về việc yêu cầu tuyên bố bà Phạm Trần Thị Bội A mất tích.
Tuyên bố: Bà Phạm Trần Thị Bội A, sinh năm 1979; Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 38, phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) ông Trần Văn T phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ mà ông T đã nộp theo biên lai thu số 0002052 ngày 11 tháng 6 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Ông Trần Văn T đã nộp đủ lệ phí.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Q. Thanh Khê ; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN Trần Dân |