- Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hoàng A.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11/2019/QĐ-TA | H, ngày 31 tháng 01 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH T
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán, chủ trì phiên họp: Bà Phạm Ngọc Giàu.
2. Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Lê Thị Hoàng Yến.
Ngày 31 tháng 01 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh T, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo hồ sơ thụ lý số: 15/2019/TL-VHC ngày 21 tháng 01 năm 2019 và Quyết định mở phiên họp số: 11/2019/QĐ-TA ngày 24 tháng 01 năm 2019 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Hoàng A, (tên gọi khác: A Tám Bói); Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/10/1987; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Hộ khẩu thường trú: Số 02, ấp B, xã N, huyện H, tỉnh T. Chỗ ở hiện nay: Số 02, ấp B, xã N, huyện H, tỉnh T; Nghề nghiệp: Không có; Cha Nguyễn Văn Ánh và mẹ Đỗ Kim Tuyết.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 77/QĐ-XPHC ngày 29/3/2017 của Công A xã N, huyện H, tỉnh T xử phạt Nguyễn Hoàng A số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Ah Nguyễn Hoàng A vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Cơ quA đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh T.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Thanh Dũng - Chức vụ: Trưởng phòng.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Hữu Bình - Chức vụ: Chuyên viên (Theo giấy ủy quyền số 16/GUQ-P.LĐTBHX ngày 25/01/2019).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh T: Ông Võ Hoàng Nhân - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 27/7/2015 Nguyễn Hoàng A bị Công A xã N, huyện H, tỉnh T xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, theo Quyết định số 82/QĐ-XPHC ngày 27/7/2015.
Ngày 29/3/2017 Nguyễn Hoàng A bị Công A xã N, huyện H, tỉnh T xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, theo Quyết định số 77/QĐ-XPHC ngày 29/3/2017
Ngày 30/3/2017 Chủ tịch UBND xã N, huyện H, tỉnh T ra Quyết định số 66 ngày 30/3/2017 áp dụng biện pháp quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình thời giA là 06 tháng đối với Nguyễn Hoàng A.
Ngày 13/12/2017 Nguyễn Hoàng A tiếp tục sử dụng ma túy và Trạm y tế xã N, huyện H, tỉnh T xác định A là người nghiện chất ma túy (Methamphetamime). Ngày 18/4/2018 Công A xã N, huyện H, tỉnh T đề nghị áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính quản lý tại gia đình thời giA 03 tháng đối với Nguyễn Hoàng A.
Ngày 22/12/2017 Chủ tịch UBND xã N, huyện H, tỉnh T ra Quyết định số 219/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời gian 03 tháng đối với Nguyễn Hoàng A.
Ngày 26/02/2018 Nguyễn Hoàng A tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và Trạm y tế xã N, huyện H, tỉnh T xác định A nghiện ma túy (Methamphetamine). Công an xã N, huyện H, tỉnh T lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị đưa A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 28/02/2018 Chủ tịch UBND xã N, huyện H, tỉnh T ra Quyết định số 62/QĐ-UBND về chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Nguyễn Hoàng A.
Ngày 26/12/2018 Nguyễn Hoàng A tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và Trạm y tế xã T, huyện H xác định A nghiện ma túy (Methamphetamine). Công A xã N, huyện H lập biên bản vi phạm hành chính và Chủ tịch UBND xã N, huyện H, tỉnh T ra Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 03/01/2019 giao cho gia đình quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời giA làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
* Ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện H: Căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hoàng A do Công A xã N, huyện H, tỉnh T lập đã thể hiện: Ah Nguyễn Hoàng A là người nghiện ma túy đá, có nơi cư trú ổn định đã bị Công A xã N, huyện H, tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, từng cai nghiện tự nguyện tại gia đình và được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng vẫn tái phạm. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ah Nguyễn Hoàng A, thời giA từ 18 tháng đến 24 tháng.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H: Tòa án nhân dân huyện H đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Nguyễn Hoàng A đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hoàng A, thời giA từ 18 tháng đến 24 tháng.
XÉT THẤY:
Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của cơ quA đề nghị là Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện H; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, có đủ cơ sở xác định:
Nguyễn Hoàng A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
Chủ tịch Ủy bA nhân dân xã N, huyện H, tỉnh T đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ah Nguyễn Hoàng A, hồ sơ đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6; 95; 96; 103; 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Trong thời giA lập hồ sơ đề nghị đưa Ah A đi cai nghiện bắt buộc, do Ah A có nơi cư trú ổn định nên Chủ tịch Ủy bA nhân dân xã N, huyện H, tỉnh T có ra Quyết định giao cho gia đình quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời giA làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Theo kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy thể hiện Nguyễn Hoàng A nhiều lần dương tính với chất ma túy. A cũng thừa nhận mình là người nghiện ma túy, biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, đối với con người, cộng đồng và xã hội nhưng vẫn liên tục sử dụng. Công A xã N, huyện H, tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt hành chính nhiều lần đối với A về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và Ủy bA nhân dân xã N, huyện H đã tạo điều kiện cho Ah A tự nguyện cai nghiện tại nhà và áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng Ah A vẫn không tự cai nghiện được. Để tạo điều kiện cho Ah A chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề, nên xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hoàng A.
Khi xem xét mức xử phạt đối với Nguyễn Hoàng A cần xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như sau:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ Ah Nguyễn Hoàng A thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và đồng ý cai nghiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng: Ah Nguyễn Hoàng A đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị áp dụng biện pháp cai nghiện tự nguyện tại gia đình và bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng vẫn tiếp tục vi phạm, đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do đó, cần áp dụng thời giA đưa vào cơ sở cai nghiện hợp lý để Ah A có thể cai nghiện tốt, trở về hòa nhập cộng đồng, làm người có ích cho xã hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 6; 95; 96; 103; 104; 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3; 4; 8; 9; 11 và 12 Nghị định số 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ Quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ - CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hoàng A.
2. Thời giA chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày Nguyễn Hoàng A bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quA đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện H có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quA thi hành quyết định: Công A huyện H, tỉnh T; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh T.
| Nơi nhận: - VKS huyện H; - Trưởng công A huyện H; - Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện H; - UBND xã N; - Công A xã N; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T; - Ah Nguyễn Hoàng A; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Phạm Ngọc Giàu |