- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn C về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” đối với chị Bùi Thị T, sinh năm 1983; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11/2018/QĐVDS-ST Ngày 21/9/2018 “V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP, TỈNH ĐẮK LẮK
- Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Trương Thành Huế - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Đình Phong – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2018/TLST-VDS, ngày 12 tháng 01 năm 2018 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích”.
Theo Quyết định mở phiên họp số: 15/2018/QĐ.MPH-VDS ngày 11 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp.
1. Người yêu cầu: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1980
Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
2. Người liên quan: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1983.
Nơi cư trú cuối cùng: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Anh Phạm Văn C yêu cầu tuyên bố chị Bùi Thị T (Vợ anh C) mất tích.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Ea Súp nhận định:
Về tố tụng:
+ Về thẩm quyền giải quyết: Ngày 10/01/2018 anh Phạm Văn C có đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với chị Bùi Thị T, sinh năm 1983; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc dân sự trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp.
+ Về nội dung:
Theo đơn yêu cầu, bản tự khai của anh Phạm Văn C và tại phiên họp người yêu cầu anh C trình bày:
Anh Phạm Văn C và chị Bùi Thị T chung sống với nhau từ năm 2002, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện E vào ngày 10/3/2002.
Trong quá trình chung sống thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2003 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng hay cãi vả, xô xát với nhau dẫn đến chị T bỏ đi khỏi nhà từ năm 2003 cho đến nay. Sau đó anh C có đi tìm kiếm chị T khắp nơi, liên hệ với người thân của chị T nhưng không ai biết được tin tức hay địa chỉ cư trú của chị T ở đâu. Sau đó anh C đã yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm chị T trên báo và Đài phát Trung ương trong ba kỳ liên tục cũng không có tin tức gì của chị T. Nay anh C yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ea Súp tuyên bố chị T mất tích để làm thủ tục ly hôn với chị T.
- Xét thấy: Theo xác nhận của Công an xã E, huyện E thì anh C và chị T chung sống với nhau từ năm 2002, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện E vào ngày 10/3/2002. Trong thời gian chung sống chị T đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2003 mà không ai biết hiện nay chị T đang sinh sống ở đâu. Anh đã C thực hiện thủ tục đăng, phát thông báo tìm kiếm chị T trên báo và Đài phát Trung ương trong ba kỳ liên tục theo đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo tìm kiếm thông tin lần đầu tiên nhưng không có tin tức gì của chị T. Như vậy đã đủ cơ sở chứng minh việc chị T biệt tích 02 năm trở lên mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị T còn sống hay đã chết theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự. Do đó yêu cầu của anh C về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” đối với chị T là có cơ sở để chấp nhận.
Anh Phạm Văn C không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của chị T nên Tòa án không xem xét gải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp phát biểu ý kiến:
Từ khi thụ lý việc dân sự cho đến khi mở phiên họp Thẩm phán chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự làm đơn đúng quy định tại Điều 361, 366 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên họp hôm nay, Chủ tọa, Thư ký cũng như người yêu cầu thực hiện đúng theo quy của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của anh C. Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát huyện Ea Súp là có cơ sở cần chấp nhận.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Văn C phải chịu 300.000 đồng, lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 27, các Điều 35, 39, 149, 361, 370, 371, 372, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 của bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn C về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” đối với chị Bùi Thị T, sinh năm 1983; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Văn C phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ anh C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện E theo biên lai thu số 0004339 ngày 12 tháng 01 năm 2018.
2. Anh Phạm Văn C được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk - VKSND huyện Ea Súp - THADS huyện E - UBND xã E - Đương sự - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Trương Thành Huế |